Quế Quảng Nam và việc buôn bán quế tại thương cảng Hội An qua một số tư liệu

Thứ hai - 25/07/2022 23:57
Quế, tên khoa học là Cinnamomum sp., thuộc họ Long não (Lauraceae). Đây là loại cây nhiệt đới lâu năm lấy tinh dầu và làm thuốc.
CAY QUE
Hình ảnh cây quế trên Nghị đỉnh ở Thế Miếu - Hoàng thành Huế - Ảnh: Hồng Việt
 
      Theo Từ điển bách khoa nông nghiệp do Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1991, ở Việt Nam, quế có 3 loại chính là: (1) quế Thanh, quế Quỳ; (2) quế Quan và (3) quế Đơn (còn gọi là quế Trung Quốc, quế Bi). Quế mọc tự nhiên hoặc được trồng, từ 5 đến 7 năm tuổi trở lên có thể bóc vỏ, tuy nhiên càng lâu năm thì vỏ càng tốt. Các nghiên cứu cho biết vỏ quế Việt Nam có từ 1-5% tinh dầu, trong khi đó quế ở các nước chỉ có 1-2%. Ngoài dùng làm gia vị, quế còn được dùng làm thuốc. Đông y coi quế là một vị thuốc bổ nhiều công dụng. Tây y coi quế là vị thuốc kích thích tuần hoàn, hô hấp, gây co mạch, tăng bài tiết và sát trùng[1]. Với những giá trị cao về hương liệu và dược liệu, từ xa xưa, quế Việt Nam đã trở thành nguồn hàng thương phẩm nổi tiếng, được thương nhân nhiều nước ưa chuộng, đặc biệt là thương nhân Trung Quốc và Nhật Bản.

      Quảng Nam/xứ Quảng được mệnh danh là vùng đất trù phú, rất giàu sản vật trên nguồn dưới biển, có nhiều thổ sản quý, chất lượng hảo hạng mà quế là một trong số đó. Hiện nay, có rất nhiều tư liệu ghi chép, mô tả về quế ở Quảng Nam/xứ Quảng và việc buôn bán quế tại thương cảng Hội An trong lịch sử. Quế là 1 trong 46 thổ sản của Quảng Nam được liệt kê trong sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn: Quế, có thuế, nguồn Thu Bồn huyện Quế Sơn mỗi năm nộp một thanh quế vào hạng thượng thượng, nặng 8 lạng. Nguồn Chiên Đàn thuộc huyện Hà Đông mỗi năm phải nộp 3 thanh quế thượng hạng.[2]

      Trong sách Minh Mạng chính yếu do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn hay Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội Các triều Nguyễn biên soạn đều có những quy định cấm trộm quế và một số sản vật khác ở tỉnh Quảng Nam cũng như ở các tỉnh. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), “vua sai bộ Hình bàn định việc cấm kẻ lấy trộm quế, kỳ nam, trầm hương, tổ yến và sâm Quảng Nam, chép thành luật lệ. Lời bàn dâng lên, vua lại sai đình thần bàn lại để thi hành, cứ tang vật lấy trộm nhiều hay ít mà định phạt. Kẻ bắt trộm và tố cáo thì có thưởng. Kẻ nào mượn cớ vu cho người ta lấy trộm, cùng là trái lệnh cấm, hoặc là nói mua của cũ và nhận là của người ta gởi, đều trị tội như luật định[3]. Việc triều đình ưu tiên thu mua quế và ban phát quế Quảng Nam cho quan, binh lính để chữa bệnh hay bồi bổ sức khỏe cũng được ghi chép trong các bộ quốc sử triều Nguyễn. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), chuẩn y lời tâu cho Quảng Nam kiếm mua quế thượng hạng nguồn Thu Bồn, mỗi cân 3 quan 5 tiền, quế hảo hạng nguồn Chiên Đàn, mỗi cân 2 quan 5 tiền[4]. Sách Đại Nam thực lục cho biết vào năm Minh Mạng thứ 15 (1834), vua “Sai thị vệ mang quế Thanh Hoa và quế Quảng Nam trong kho nội phủ đến phát cho quân thứ Gia Định 3 cân, quân thứ Hà Tiên 1 cân. Sau đó, nghe biết thú binh ở Hà Tiên phần nhiều mắc bệnh, lại cấp thêm cho 3 cân nữa”[5].

      Trong Quảng Nam xưa và nay, tập di cảo được soạn thảo năm 1962 cho biết “Quế là một sản phẩm xuất cảng của Quảng Nam. Quế hoang (mọc ở rừng) ít có, nên quý, giá đắt hơn quế vườn người ta thường trồng ở Trà My, Quế Sơn và Tiên Phước. Quế là một môn thuốc trị bệnh hàn, và bán ra ngoại quốc để nấu dầu. Quế có 6 hạng:

     1) Quế kẹp: Quế này do người Thượng lột dày vỏ, thợ chuyên môn ở Quảng Nam đem ngâm nước rồi uốn nắn thành quế kẹp, có thanh tre ngáng ở trong phiến quế. Nhứt hạng mỗi ký 200 đồng, nhị hạng độ 150 đồng, tam hạng độ 100 đồng.
      2) Quế nách: là những phiến quế lột ở thân cây quê, không cần uốn nắn. Quế này có nhiều dầu, giá từ 30 đồng đến 50 đồng, mỗi một ký-lô.
      3) Quế chống: là những phiến quế dày, thợ chuyên môn ngâm nước cho mềm, rồi lấy que tre nhỏ chống bên trong, cho quế khỏi tóp lại, giá mỗi ký lô 15-20 đồng.
      4) Quế chạc: là quế lột ở gần gốc cây quế. Quế này vỏ dày nhiều cát, ít dầu, giá mỗi ký từ 10 đến 20 đồng.
      5) Quế thảo: là những phiến quế lột ở cành quế cũng gọi là quế chi, giá mỗi ký từ 5 đến 6 đồng.
      6) Quế xe: thứ này lột ở cành quế, dài hơn quế thảo, sau ngâm nước thợ lấy ống nứa xe tròn. Thứ quế này ở Quảng Nam ít làm. Giá mỗi ký từ 6 đến 9 đồng.”[6]

      Với vị trí địa lý thuận lợi cũng như nhờ vào chính sách phát triển thương mại của chúa Nguyễn, Hội An vào thời kỳ Trung đại trở thành một cảng thị quốc tế sầm uất khu vực, quế cùng nhiều sản vật Quảng Nam, Đàng Trong được xuất khẩu qua thương cảng này. Theo GS.Nguyễn Văn Kim, dưới thời chúa Nguyễn, hàng năm cảng thị Hội An đã bán cho người nước ngoài 2.000 tấn quế các loại[7]. Tư liệu xã Minh Hương vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822) ghi chép về việc cân quế cho trưởng tàu Tiêu Tín Mậu, trưởng tàu Lâm Thọ Hiệp vào các ngày 13, 23, 27 tháng 6. Ghi chép cho biết quế xuất khẩu qua thương cảng Hội An lúc này chia thành 5 loại với giá mua khác nhau, giá mỗi tạ đối với quế hạng 1 là 44 quan, quế hạng 2 là 280-289 quan, quế hạng 3 là 170 quan, quế đầu tạ là 70 quan, quế tạ là 30 quan. Thuế quế phải nạp khoảng 5% giá mua. Châu bản triều Nguyễn thời vua Thành Thái cho biết vào năm 1890, Công sứ Đà Nẵng có yết thị thu thuế buôn quế tại phố Hội An: “Vào ngày 19 tháng này (tháng 11), Công sứ trú tại Đà Nẵng có niêm yết rằng hễ ai là người làm nghề buôn bán ngọc quế tại phố Hội An thì vẫn cho phép như trước đây. Riêng, từ nay về sau phải nộp thuế như giá quế xuất khẩu”. Tập Hồi ký xứ Đông Dương của Paul Doumer[8] cho biết vào đầu thế kỷ XX Hội An vẫn là một trung tâm xuất khẩu quế: “Chúng ta đang ở trên vùng đất Quảng Nam giàu có (…), tỉnh lỵ của nó là Hội An (Faifoo). Đây là một thành phố thương mại với nhiều ngôi nhà kiểu Trung Hoa, và là một trung tâm xuất khẩu quế, do người Mọi [Thượng] bóc được trên các vùng núi cao của Lào và Trung Kỳ. Quế được vận chuyển trực tiếp từ Hội An sang Quảng Châu bằng những thuyền mành lớn hoặc trên những chiếc thuyền tam bản được phái đến Đà Nẵng. Đó là nơi có một chiếc tàu nhỏ chạy máy hơi nước cắm cờ Đức đến chuyển hàng hóa theo định kỳ tới Hương Cảng, Quảng Châu[9]

      Trong Gió trăng cố quận được xuất bản năm 1996 do nhà nghiên cứu Nguyễn Bội Liên sưu tầm và dịch có giới thiệu 04 bài thơ, vịnh của Diệp Ngộ Xuân và một số tác giả khác. Những bài thơ, vịnh này đề cập đến nguồn quế tốt ở các địa phương tỉnh Quảng Nam: Thanh hoa, quan quế lưỡng tư nghi, Giá trĩ thiên kim vô định kỳ, Nhơn đạo Phước Sơn hành quế hảo, Du đầu nguyên bất cập Trà My (tạm dịch: Thanh hoa, quan quế giá giống nhau, giá đến ngàn đồng chẳng định đâu, người nói Phước Sơn đều quế tốt, Trà My hơn hẳn bởi nhiều dầu). Hoạt động buôn bán quế rộn ràng tại thương cảng Hội An vào thế kỷ XIX được thể hiện trong bài Chúng thương phiến quế: Bát nguyệt quế hoa mãn uyển thương, Lữ nhơn phần thiết cấp mang mang, Niên niên sổ xuất vô sa số, Khứ tận hoàn lai phiến quá dương (tạm dịch: Đầy hàng tháng tám ngát mùi hương, Sửa quế người xem khá rộn ràng, Số chở hàng năm khôn xiết kể, Bán xong lại đến lấy thêm hàng).[10]

      Qua một số tư liệu giới thiệu ở trên đã khẳng định giá trị của sản phẩm quế Quảng Nam cũng như phương thức quản lý của nhà nước đối với sản phẩm này và việc xuất khẩu quế nhộn nhịp qua thương cảng Hội An trong lịch sử.
 
[1] Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1991), Từ điển bách khoa nông nghiệp, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa việt Nam xuất bản, Hà nội, tr.336-337.
[2] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb Thuận Hóa, tr.462.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn (bản dịch 2010), Minh Mệnh chính yếu, Nxb Thuận Hóa, tr.1454.
[4] Nội các triều Nguyễn, Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập III, bản dịch đã dẫn, tr.617.
[5] Quốc sử quan triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb Giáo Dục, 2007, tr.409
[6] Hồ Ngận (1962), Quảng Nam xưa và nay (di cảo), Nxb Thanh Niên, năm 2004, tr.147-148.
[7] Nguyễn Văn Kim (2011), “Các nguồn hàng và thương phẩm của Đàng Trong”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4.2011, tr.12-13.
[8] Toàn quyền Đông Dương năm 1897-1902.
[9] Paul Doumer (2020), Hồi ký xứ Đông Dương, Lưu Đình Tuân, Hiệu Constant, Lê Đình Chi, Hoàng Long, Vũ Thúy dịch, Nxb Thế giới, tr.347.
[10] Nguyễn Bội Liên (1996), Gió trăng cố quận, Nxb Đà Nẵng.

Tác giả bài viết: Võ Hồng Việt

Nguồn tin: Trung tâm Quảng lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây