Di tích Miếu ấp Xuân Mỹ (miếu Ông Cọp)

Thứ năm - 04/02/2021 08:37
Cẩm Phô là một trong những làng/xã được hình thành từ khá sớm ở Hội An. Qua một số tư liệu cho biết làng Cẩm Phô được hình thành vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI và không ngừng phát triển về quy mô diện tích qua từng giai đoạn.
mieu ong cop
Miếu ấp Xuân Mỹ (miếu Ông Cọp)   Ảnh: Trần Phương
 
 Ban đầu, làng Cẩm Phô bao gồm các địa danh như Xứ Tam Châu, gồm có các ấp Xuyên Trung, Hà Trung, Châu Trung (nay thuộc địa bàn phường Cẩm Nam); Xứ Tam Ấp gồm có ấp Tu Lễ, ấp Xuân Lâm (nay thuộc địa bàn các khối Hoài Phô, Tu Lễ, Xuân Lâm, phường Cẩm Phô) và ấp Trường Lệ (nay là khối Trường Lệ, phường Cẩm Châu). Về sau, xứ Tam Châu mở rộng thêm ấp Trung Châu, gồm có Trung Giang Thượng (nay thuộc địa phận phường Sơn Phong) và Trung Giang Hạ (nay thuộc địa phận phường Cẩm Châu), ấp Nam Ngạn, ấp Trung Tín (nay thuộc địa phận phường Cẩm Nam), ấp Chương Phô (nay thuộc địa phận Lai Nghi, phường Điện Nam Đông, thị xã Điện Bàn), làng Hòa Yên (nay thuộc địa phận khối An Bang, phường Thanh Hà), rồi thành lập thêm các ấp Xuân Mỹ, Xuân Quang (nay thuộc địa phận khối Xuân Mỹ, phường Tân An).([1])

Theo một số tài liệu cho biết ấp Xuân Mỹ ban đầu là một xóm nhỏ, tên gọi là Xóm Mới, thuộc ấp Xuân Lâm, làng Cẩm Phô. Khu vực này là vùng đất cát trắng, cây cối um tùm, dân các nơi mới đến khai khẩn đất đai, rồi dần định cư, lập nghiệp, Xóm Mới từ đó được hình thành. Sau này, Xóm Mới được thành lập một ấp độc lập, tên gọi là Xuân Mỹ, thuộc địa phận làng Cẩm Phô.

Trên địa phận ấp Xuân Mỹ hiện nay vẫn còn hiện diện ngôi đình của ấp, dân gian địa phương thường gọi là miếu Ông Cọp. Ngôi đình tọa lạc tại địa chỉ số 65 đường Đinh Tiên Hoàng (khối Xuân Mỹ, phường Tân An). Theo nội dung văn bia cho biết cư dân Xóm Mới, ấp Xuân Lâm xây dựng vào năm 1936 (niên hiệu vua Bảo Đại thứ 11) để thờ Âm linh, là nơi diễn ra lễ tế tự Xuân, Thu hàng năm của cư dân Xóm Mới. Văn bia đề: 保 大 十 一 年 四 月十 八 日 錦 鋪 第 三 坊 春 林 邑 四 政 新 鄰 員 豪 聀 役 正 寓 商 民 仝 建 造 祠... 及 会 齊 本 鄰 員 豪 聀  役 正 寓  商  民  等 仝 应 捐 缺 銀 錢 建 造 陰 靈 祠 所 (Bảo Đại thập nhất niên, tứ nguyệt, thập bát nhật, Cẩm Phô đệ tam phường, Xuân Lâm ấp, Tứ chánh tân lân, viên hào, chức dịch, chánh ngụ, thương dân đồng kiến tạo từ… Cập hội tề bổn lân viên hào, chức dịch, chánh ngụ, thương dân đẳng đồng ưng quyên khuyết ngân tiền kiến tạo Âm linh từ sở).

Qua các thông tin trên, có thể ban đầu ngôi miếu được cư dân Xóm Mới xây dựng lên mang tính chất là một cơ sở thờ tự Âm linh của xóm, sau khi thành lập ấp Xuân Mỹ, ngôi miếu mang tính chất là một thiết chế tín ngưỡng với qui mô là một ngôi đình ấp, là nơi thờ các vị thần bảo hộ, phối thờ các vị Tiền hiền, Hậu hiền, âm linh ấp Xuân Mỹ.

Hiện nay, dân gian địa phương quen gọi đình ấp Xuân Mỹ là miếu Ông Cọp. Lý giải về tên gọi này, đa số đều cho rằng do bức phù điêu hình con cọp trên bình phong án ngữ trước chính đình nên mọi người dân thuận miệng gọi là miếu Ông Cọp. Theo tín ngưỡng dân gian, cọp tượng trưng cho vị thần có chức năng bảo vệ, trấn giữ, chống lại tà ma để bảo vệ cho cuộc sống nhân gian được phát triển yên ổn, ấm no([2]). Hình tượng cọp còn là biểu tượng cho sự uy quyền, dũng mãnh. Trước đây, một số nơi hay bị cọp quấy nhiễu thì tuyệt nhiên cư dân nơi đó kiêng không dám gọi thẳng tên là cọp hay hổ mà thường gọi là “ông ba mươi” với tâm thế tôn kính.

Ngôi đình có mặt tiền quay theo hướng Nam, gồm có các hạng mục cổng, tường rào, bình phong và chính đình. Phía Đông giáp đường bê tông, phía Tây và Bắc giáp nhà dân, phía Nam tiếp giáp đường giao thông Đinh Tiên Hoàng.

Hạng mục cổng gồm có một cổng chính và một cổng phụ, trong đó cổng chính rộng 1,6m, trụ cổng có tiết diện vuông, đầu trụ cổng gắn chi tiết hình dạng quả bí, bên trên gắn chi tiết giống chim phụng, mặt ngoài đầu trụ đắp nổi gờ chỉ tạo thành ô hộc gắn đĩa sứ (trang trí đồ án long vân), thân trụ đắp nổi cặp câu đối chữ Hán: 錦 地 振 威 靈 鑒 虎 風 傳 畱 萬 世 /  春 天 光 宇 宙 應 龍 雲 集 兆 千 祥 (Cẩm địa chấn uy linh giám hổ phong truyền lưu vạn thế / Xuân thiên quang vũ trụ ứng long vân tập triệu thiên tường). Trên lối vào cổng gắn một bức hoành dạng hình cuốn thư đắp bằng vữa, trang trí hồi văn, hai mặt đắp nổi các chữ Hán: 春 美 邑 (Xuân Mỹ ấp). Hai bên cổng chính là hai trụ xây thấp hơn (cao 2,05m, đường kính 0,42m) liên kết với cổng chính là đoạn tường xây gạch gắn các thanh lam hình chữ nhật, bề mặt đắp gờ chỉ tạo ô vuông gắn đĩa sứ trang trí đồ án long vân, bên dưới đắp nổi cặp câu đối chữ Hán: 國 泰 民 安 精 靈 地 / 風 調 雨 順 太 平 天 (Quốc thái dân an tinh linh địa / Phong điều vũ thuận thái bình thiên). Hạng mục cổng phụ rộng 0,8m, gồm có 02 trụ xây gạch dạng hình chóp nhọn.

Hạng mục bình phong đình được xây dựng theo dạng hình cuốn thư, mặt ngoài bình phong đắp nổi đồ án hình cọp đang giương nanh vuốt, hai nếp ngoài bình phong đắp nổi đồ án “tùng hạc”“trúc điểu”, hai nếp ngoài cùng đắp nổi đồ án “hồi văn”. Mặt trong bình phong đắp nổi đồ án chim ưng, hai nếp ngoài đắp nổi đồ án “đông bình tây quả”.

Chính đình cách bình phong 9,60m, kết cấu gồm có tiền đường hậu tẩm. Tiền đường kiểu ba gian (Kt: 5,57m x 6,02m), mặt tiền tạo 03 lối vào dạng hình cuốn vòm. Hai bên tường biên có 02 lối vào cũng có dạng hình cuốn vòm. Mái lợp ngói âm dương, đầu mỗi vồng ngói đều được gắn đĩa sứ trang trí đồ án rồng, bờ nóc được đắp cong nhẹ dạng hình thuyền, trên bờ nóc gắn đồ án “lưỡng long chầu nhật” (hình tượng rồng được thể hiện theo kiểu thức “dây lá hóa long”). Bờ chảy mái giật cấp mềm mại, trên đầu bờ chảy gắn đồ án “dây lá”. Tường đầu hồi đắp nổi đồ án dơi theo kiểu cách điệu. Mặt tiền chính đình có 04 trụ tiết diện vuông, xây bằng gạch tô trát xi măng, mặt ngoài trụ đắp nổi các cặp liễn đối chữ Hán:
Nguyên văn cặp liễn đối trong:
春 雨 名 高 人 民 沐 德
美 倫 完 存 群 眾 霑 恩
Phiên âm:
Xuân vũ danh cao, nhân dân mộc đức
Mỹ luân hoàn tồn, quần chúng triêm ân.
Nguyên văn cặp liễn đối ngoài:
錦 肅 江 山 英 靈 秀 氣
鋪 張 廟 宇 感 應 玄 機
Phiên âm:
Cẩm túc giang sơn, anh linh tú khí
Phô trương miếu vũ, cảm ứng huyền cơ.
Bên trong tiền đình, trên tường biên phía Đông gắn một văn bia niên đại năm 1936, nội dung khắc ghi công đức các bậc tiền nhân xây dựng ngôi đình[3]. Nội dung văn bia:

Trên tường biên phía Tây gắn một văn bia, hình thức bia giống bia đá trên tường phía Đông, nội dung về công đức tu bổ, sửa chữa ngôi đình; hiện trạng bia còn nguyên vẹn tuy nhiên chữ trên bia chạm khá nông và mờ[4].

Tiền đường bố trí 02 bàn thờ ở hai gian Đông và Tây, trong đó bàn thờ gian phía Đông thờ tự các vị Tiền vãng của ấp, kết cấu gồm có một bệ thờ, bên trên đặt khám thờ bằng gỗ; quần bàn trang trí đồ án “phụng vũ”, “dây lá”, “bát bửu”, bên trên bàn thờ có một bài vị bằng gỗ khắc các chữ Hán: 前 賢 (Tiền hiền), thân bài vị chạm trổ đồ án “thái cực”, “long phụng”, đế bài vị chạm trổ đồ án “dây lá”. Khám thờ được chạm trổ khá tỉ mỉ các đồ án trang trí như đồ án “lưỡng long chầu thái cực”, “dây lá hóa phụng”, “tùng hạc”, “mai điểu”, “hoa dây”, “dây lá”, phật thủ, đào, lựu, chữ 卍 (vạn), “hồi văn”. Bàn thờ gian phía Tây thờ Hậu vãng, quần bàn trang trí đồ án “phụng vũ”, “dây lá”, bát bửu; trên bàn thờ đặt thờ bài vị bằng gỗ chạm các chữ Hán: 後 賢 (Hậu hiền); chi tiết trang trí trên khám thờ giống với khám thờ Tiền vãng.

Trong không gian chính điện trang trí một số hoành phi (do nhân dân ấp Xuân Mỹ phụng cúng). Bức hoành gian phía Đông: 永 蒙 護 祐 (Vĩnh mông hộ hữu), dòng thượng khoản: 壬 辰 年 孟 夏 (Nhâm Thìn niên mạnh hạ), dòng hạ khoản đề: 班 治 事 庙 翁 虎 邑 春 美 奉 供 (Ban trị sự miếu Ông Hổ  ấp Xuân Mỹ phụng cúng), viền trang trí các đồ án chữ 卍 (vạn) cách điệu, “lưỡng long chầu thái cực”, “lưỡng lân chầu cổ đồ”, chim phụng. Bức hoành gian giữa: 神 德 荷 庇 (Thần đức hà tý), dòng thượng khoản: 壬 辰 年 孟 春 (Nhâm Thìn niên mạnh xuân), dòng hạ khoản: 諸 族 派 春 美 邑 同 奉 供 (Chư tộc phái Xuân Mỹ ấp đồng phụng cúng). Bức hoành gian phía Tây: 風 調 雨 順 (Phong điều vũ thuận), dòng thượng khoản: 壬 辰 年 孟 夏 (Nhâm Thìn niên mạnh hạ), dòng hạ khoản: 班 領 道 塊 春 光 春 美 同 奉 供 (Ban lãnh đạo khối Xuân Quang, Xuân Mỹ đồng phụng cúng).

Trên tường lối vào hậu tẩm đắp nổi bức hoành: 春 美 邑 (Xuân Mỹ ấp), dòng thượng khoản: 戊 申 年 季 冬 (Mậu Thân niên quý đông), dòng hạ khoản: 本 邑 重  修 (Bổn ấp trọng tu). Hai bên tường đắp nổi cặp liễn đối: 廟 宇 尊 嚴 千 古 在 ; 陰 靈 顯 赫 萬 年 存 (Miếu vũ tôn nghiêm, thiên cổ tại / Âm linh hiển hách, vạn niên tồn).

Hậu tẩm kết cấu một gian, bố trí 03 bàn thờ, trong đó vị bàn thờ chính giữa thờ Thần, hai bên là bàn thờ Tả ban và hữu ban. Quần bàn bàn thờ Thần trang trí đồ án “long ngư hý thủy”, “dây lá”, trên bàn thờ đặt bài vị bằng gỗ chạm nổi chữ Hán: 神 (Thần), bài vị chạm trổ các đồ án rồng, “hồi văn”, “dây lá”, bên trong xây một khám thờ, chính giữa đắp nổi chữ Hán: 神 (Thần), trán khám thờ trang trí đồ án “lưỡng long chầu nhật”, viền bên dưới trán trang trí các đồ án hoa lá, “tứ giác liên hoàn”. Thân khám thờ trang trí nhiều đồ án như: “tùng lộc”, phong cảnh, hoa lá, đào. Hai viền khám khắc chìm cặp câu đối chữ Hán: 百 年 清 泰 憑 神 祐 / 千 載 興 隆 賴 聖 扶 (Bách niên thanh thái, bằng thần hựu / Thiên tải hưng long, lại thánh phù). Bàn thờ Tả ban bố trí phía Đông hậu tẩm, quần bàn trang trí kiểu chân quỳ, trên tường vẽ hình khám thờ dạng hình chữ nhật, chính giữa đề chữ Hán: 左 班 (Tả ban), xung quanh trang trí các đồ án cụm mây, chữ 卍 (vạn) cách điệu, “hoa dây”. Phía Tây là bàn thờ Hữu ban, hình thức trang trí giống bàn thờ Tả ban, riêng chữ trên tường đề chữ: 右 班 (Hữu ban).

Hằng năm, vào ngày 16 tháng giêng, tại ngôi đình diễn ra lễ tế Xuân cầu an của nhân dân ấp Xuân Mỹ, trong lễ tế có tục lệ tống Long Chu, thu hút sự tham gia đông đảo của nhân dân địa phương. Riêng lễ tế Thu, lễ này cúng nhỏ hơn, đa số hằng năm chỉ tổ chức cúng hương, trầm, trà, hoa quả.

Trải qua sự khắc nghiệt của thời gian và bom đạn chiến tranh nhưng ngôi đình ấp Xuân Mỹ vẫn tồn tại và giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân ấp Xuân Mỹ. Sự hiện diện của ngôi đình góp phần minh chứng cho sự hình thành và phát triển của ấp Xuân Mỹ, làng Cẩm Phô nói riêng và sự hình thành làng xã ở Hội An nói chung, đồng thời góp phần tạo nên sự phong phú về mặt kiến trúc xây dựng, nghệ thuật trang trí của loại hình đình ấp nói riêng, về di tích tín ngưỡng cộng đồng ở Hội An nói chung. Với những giá trị đó, đình ấp Xuân Mỹ được UBND tỉnh Quảng Nam ghi vào Danh mục kiểm kê di tích giai đoạn 2019-2024 theo Quyết định số 3508/QĐ-UBND ngày 05/11/2019 của UBND tỉnh Quảng Nam.
 

[1] Nguyễn Chí Trung (2019), Vài nét về làng Cẩm Phô, bài viết đăng tải trên website Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, đường link liên kết: https://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/vai-net-ve-lang-cam-pho-767.html
[2] Kim Lê, (2012), Những đề tài hoa văn thường được trang trí trên gốm Lái Thiêu và ý nghĩa của chúng, Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương, website: http://www.sugia.vn/home/index.
[3] Nguyên văn: 保 大 十 一 年 四 月 十 八 日 錦 鋪 第 三 坊 春 林 邑 四 政 新 鄰 員 豪 聀 役 正 寓 商 民 仝 建 造 祠 冥 冥 九 泵 涉 涉 長 夜 神 魂 之 宅 依 切 之 所 昔 人 之 感 慕 衣 有 以 也 本 鄰 從 前 尚 属 錦 江 荒 地 開 廣 沙 林 间 穸 靈 爽 噫 有 生 之 必 化 頭 [] 生 之 不 [] 有 人 心 焉 [] [] [] [] [] [] [] 及 会 齊 本 鄰 員 豪 聀  役 正 寓  商  民  等 仝 应 捐 缺 銀 錢 建 造 陰 靈 祠 所 择 [] 丙 子 年 润 三 月 拾 三 日 辰 牌上 樑 構 立 于 本 鄰 爲 陰  靈 祠 所 而 今 而 後 春 秋 祭 祀 之 憑 依 也 所 有 員 豪 聀 役 正 寓 商 民 等 出 供 銀 錢 列 銘 于 后 計 正 卒 隊 精 兵 阮 軒 供 銀 八 毛 正 卒 隊 精 兵 阮 富 供 銀 三 元 八 品 隊 長 阮 海 供 銀 三 元 [] 品 隊 長 許 蘭 供 銀 壹 元...范 ???? 供 銀 壹 元...蔭 供 銀 伍 毛...供 銀 伍 毛...供 銀 壹 元 賞 副 總 元 浦 長 阮 享 供  銀  壹 元 巡 城 兵 陳 文 科 供 銀 三 元 免 差 裴 明 供 銀 壹 元 免 差 杜 酒 供 銀 弍 元 免 差 范 明 供 銀 伍 毛 旧 里 長 范 詢 供 銀 伍 毛 習 兵 阮 鄰 供 銀 壹 元 習 兵 黎 朱 供 銀 壹 元 旧 鄕 檢 阮 桃 供 銀 壹 元 [] 毛 旧 團 長 阮 [] 供 銀 壹 元 弍 毛 鄉 檢 杜 申 供 銀 弍 元 伍 毛 鄉 檢 陳 ???? 供 銀 伍 毛 旧 鄉 檢 陳 賈 供 銀 伍 毛 廣 絡 夫 阮 菊 供 銀 三 元 旧 鄰 長 阮 芳 供 銀 壹 元 旧 鄰 長 陳 富 供 銀 伍 毛 甲 長 林 鐘 供  銀 伍 毛 四 毛 以 下 王 齊 阮 [] 祥 三 毛 以 下 永 利 南 中 和 祥 金 興 三 毛 以 下 均 勝 燦 盛 廣 [] 秀 軒 鄭 連 廣 發 三 毛 以 下 李 振 發 潮 利 安 泰 生 軒 弍 毛 以 下 廣 利 初 發 []  連 南 興 潘 廣 [] 葉 同 忠 []
                Phiên âm: Bảo Đại thập nhất niên, tứ nguyệt, thập bát nhật, Cẩm Phô đệ tam phường, Xuân Lâm ấp, Tứ chánh tân lân, viên hào, chức dịch, chánh ngụ, thương dân đồng kiến tạo từ. Minh minh cửu tuyền, thiệp thiệp trường dạ, thần hồn chi trạch y thiết chi sở tích nhân chi cảm mộ y hữu dĩ dã. Bổn lân tùng tiền thượng thuộc Cẩm Giang hoang địa khai quảng sa, lâm gian tịch linh sảng, ức hữu sinh chi tất hóa đầu [] sinh chi bất [] hữu nhân tâm yên. [] [] [] [] [] [] [] cập hội tề bổn lân viên hào, chức dịch, chánh ngụ, thương dân đẳng đồng ưng quyên khuyết ngân tiền kiến tạo Âm linh từ sở. Trạch [] Bính Tí niên, nhuận tam nguyệt, thập tam nhật, Thìn bài, thượng lương cấu lập vu bổn lân vi Âm linh từ sở nhi kim, nhi hậu, Xuân Thu tế tự chi bằng y dã. Sở hữu viên hào, chức dịch, chánh ngụ, thương dân đẳng, xuất cúng ngân tiền liệt minh vu hậu. Kê: Chánh tốt đội tinh binh Nguyễn Hiên cúng ngân bát mao. Chánh tốt đội tinh binh Nguyễn Phú cúng ngân tam nguyên. Bát phẩm đội trưởng Nguyễn Hải cúng ngân tam nguyên. [] phẩm đội trưởng Hứa Lan cúng ngân nhất nguyên… Phạm Điểu cúng ngân nhất nguyên… Ấm cúng ngân ngũ mao… cúng ngân ngũ mao… cúng ngân nhất nguyên. Thưởng Phó tổng, nguyên Phố trưởng Nguyễn Hưởng cúng ngân nhất nguyên. Tuần thành binh Trần Văn Khoa cúng ngân tam nguyên. Miễn sai Bùi Minh cúng ngân nhất nguyên. Miễn sai Đỗ Tửu cúng ngân nhị nguyên. Miễn sai Phạm Minh cúng ngân ngũ mao. Cựu Lý trưởng Phạm Tuân cúng ngân ngũ mao. Tập binh Nguyễn Lân cúng ngân nhất nguyên. Tập binh Lê Châu cúng ngân nhất nguyên. Cựu Hương kiểm Nguyễn Đào cúng ngân nhất nguyên [] mao. Cựu Đoàn trưởng Nguyễn [] cúng ngân nhất nguyên nhị mao. Hương kiểm Đỗ Thân cúng ngân nhị nguyên, ngũ mao. Hương kiểm Trần Âm cúng ngân ngũ mao. Cựu Hương kiểm Trần Mua cúng ngân ngũ mao. Quảng lạc phu Nguyễn Cúc cúng ngân tam nguyên. Cựu Lân trưởng Nguyễn Phương cúng ngân nhất nguyên. Cựu Lân trưởng Trần Phú cúng ngân ngũ mao. Giáp trưởng Lâm Chung cúng ngân ngũ mao. Tứ mao dĩ hạ: Vương Tề, Nguyễn [] Tường. Tam mao dĩ hạ Vĩnh Lợi Nam, Trung Hòa Tường, Kim Hưng. Tam mao dĩ hạ Quân Thắng, Xán Thạnh, Quảng [], Tú Hiên, Trịnh Liên, Quảng Phát. Tam mao dĩ hạ Lý Chấn Phát, Triều Lợi, An Thái, Sinh Hiên. Nhị mao dĩ hạ: Quảng Lợi, Sơ Phát,… Liên, Nam Hưng, Phan Quảng [], Diệp Đồng Trung, [] [].
[4] Nội dung văn bia. Nguyên văn: 鄰 内 正 寓 老 饒 商 民 信 女 現 供 数 銀 列 銘 于 后. 阮 琨 供 銀 四 元 四 毛 阮 色 供 銀 弍 元 伍 毛 阮 琢 供 銀 弍 元 伍 毛 杜 问 供  銀 弍 元 三 毛 裴 明 供 銀 弍 元 三 毛 潘 [] 供 銀 弍 元 黃 預 供 銀 弍 元 裴 [] 供 銀 弍 元 張 斗 供 銀 弍 元 阮 著 供 銀 壹 元 伍 毛 陳 惪 供 銀 壹 元 伍 毛 阮 康 供 銀 壹 元 伍 毛 陳 高 供 銀 壹 元 弍 毛 壹 元 以 下 潘 松 梁 柱 蔡 文 廸 阮 喂 段 欹 許 枚 陳 立 陳 智 阮 德 王 章 阮 記 八 毛 以 下 阮 香 陳 国 陆 毛 以 下 陳 槁 五 毛 以 下 莫 守 廌 阮 正 阮 [] 子 黄 亥 王 金 前 高 琢 阮 声 陳 韶 陳 盖 丁 成 蔡 惠 陳 寅 阮 子 五 毛 以 下 吾 成 裴 捧 陳 [] 枚 立 枚 振 范 蘭 范 仙 阮 川 四 毛 以 下 蔡 光 結 莫 [] 寜 叁 毛  以 下 吳 元 吳 豆 黄 名 黎 伸 范 鐍 蔡 語 潘 奇 陳 椅 李 塔.
Phiên âm: Lân nội chánh ngụ, lão nhiêu, thương dân, tín nữ, hiện cúng số ngân liệt minh vu hậu. Nguyễn Côn cúng ngân tứ nguyên tứ mao. Nguyễn Sắc cúng ngân nhị nguyên ngũ mao. Nguyễn Trác cúng ngân nhị nguyên ngũ mao. Đỗ Vấn cúng ngân nhị nguyên tam mao. Bùi Minh cúng ngân nhị nguyên tam mao. Phan [] cúng ngân nhị nguyên. Huỳnh Dự cúng ngân nhị nguyên. Bùi [] cúng ngân nhị nguyên. Trương Đẩu cúng ngân nhị nguyên. Nguyễn Trứ cúng ngân nhất nguyên ngũ mao. Trần Đức cúng ngân nhất nguyên ngũ mao. Nguyễn Khương cúng ngân nhất nguyên ngũ mao. Trần Cao cúng ngân nhất nguyên nhị mao. Nhất nguyên dĩ hạ: Phan Tùng, Lương Trụ, Thái Văn Địch, Nguyễn Úy, Đoàn Y, Hứa Mai, Trần Lập, Trần Trí, Nguyễn Đức, Vương Chương, Nguyễn Ký. Bát mao dĩ hạ: Nguyễn Hương, Trần Quốc. Lục mao dĩ hạ: Trần Cảo. Ngũ mao dĩ hạ: Mạc Thủ Trãi, Nguyễn Chánh, Nguyễn [] Tử, Huỳnh Hợi, Vương Kim Tiền, Cao Trác, Nguyễn Thanh, Trần Thiều, Trần Cái, Đinh Thành, Thái Huệ, Trần Dần, Nguyễn Tử. Ngũ mao dĩ hạ: Ngô Thành, Bùi Bổng, Trần [], Mai Lập, Mai Chấn, Phạm Lan, Phạm Tiên, Nguyễn Xuyên. Tứ mao dĩ hạ: Thái Quang Kết, Mạc [] Ninh. Tam mao dĩ hạ: Ngô Nguyên, Ngô Đậu, Huỳnh Danh, Lê Thân, Phạm Quyết, Thái Ngữ, Phan Kỳ, Trần Kỷ, Lý Tháp.
 

Tác giả bài viết: Trần Phương

Nguồn tin: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

liên kết di sản
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây