Ban đầu, làng Cẩm Phô bao gồm các xứ đất Tam Châu, gồm có các ấp Xuyên Trung, Hà Trung, Châu Trung; xứ Tam Ấp gồm có ấp Tu Lễ, ấp Xuân Lâm và ấp Trường Lệ. Về sau, xứ Tam Châu mở rộng thêm ấp Trung Châu, gồm có Trung Giang Thượng và Trung Giang Hạ, ấp Nam Ngạn, ấp Trung Tín, ấp Chương Phô, Hòa Yên, rồi thành lập thêm các ấp Xuân Mỹ, Xuân Quang.
Làng Cẩm Phô nổi tiếng về truyền thống khoa bảng (tiêu biểu là dòng họ Nguyễn Tường), có nhiều vị đỗ đạt cao như: Tiến sĩ Nguyễn Tường Phổ, Phó bảng Nguyễn Tường Vĩnh, Cử nhân Mai Diễn, cùng nhiều vị quan lớn đến sinh sống và định cư như: Binh bộ Thượng thư Nguyễn Tường Vân (thân phụ của Tiến sĩ Nguyễn Tường Phổ và Phó bảng Nguyễn Tường Vĩnh), Tham tri Binh bộ Trần Ngọc Dao.
Theo văn hóa truyền thống, các làng có người nằm trong khoa bảng được lập Văn chỉ (Văn Thánh miếu) để thờ Đức Khổng Tử, các vị Tiên nho và đặc biệt là tôn vinh sự hiển đạt và công lao của các vị khoa bảng trong làng, đồng thời giáo dục tinh thần hiếu học của tiền nhân cho thế hệ trẻ. Văn Thánh miếu Cẩm Phô được xây dựng trong bối cảnh đó. Di tích hiện tọa lạc tại địa chỉ số 32 đường Hùng Vương thuộc phường Hội An.

Di tích Văn Thánh miếu - Ảnh: Quang Ngọc
Hằng năm, theo lệ xuân thu nhị kỳ (vào ngày 16 tháng 2 và tháng 8 âm lịch), cộng đồng địa phương tổ chức lễ cúng tế cầu an nhằm cầu mong con dân xóm làng hưng thịnh, hiển đạt và tổ chức các hoạt động khuyến học của địa phương.
Hiện nay, chưa có tư liệu xác định được niên đại khởi dựng của di tích Văn Thánh miếu Cẩm Phô. Tại di tích, hiện vật có niên đại sớm nhất là năm 1850, do đó có thể xác định rằng đến thời điểm này công trình đã được xây dựng (thông qua bức hoành “Thùy giáo vạn thế” do Bố chánh sứ Vĩnh Long Nguyễn Tường Vĩnh tiến cúng).
Trải qua thời gian, tác động của khí hậu khắc nghiệt miền Trung và những biến động lịch sử khiến công trình nhiều lần xuống cấp và được trùng tu. Di tích đã trải qua các lần tu bổ vào năm 1871 (xà cò ghi: “Tự Đức nhị thập tứ niên tuế thứ Tân Mùi trọng thu thượng hoán Cẩm Phô xã hương quan hương chức đồng trùng kiến”), năm 1913 (xà cò ghi: “Duy Tân thất niên Quý Sửu thu đồng xã cải tạo”); năm 1964, di tích do cộng đồng địa phương thực hiện. Từ sau năm 1975 đến nay, di tích do Nhà nước đầu tư tu bổ qua các năm: 1994, 2010, 2023.
Di tích quay mặt về hướng Tây Nam, gồm các hạng mục chính: cổng kiểu tam quan, tường bao, sân và miếu thờ.
Cổng được xây theo kiểu tam quan, hệ cửa gỗ thượng song hạ bản. Trên các trụ biểu trang trí hoa sen, chính giữa cổng đắp nổi bức hoành “Văn Thánh miếu”, hai bên là các câu đối ca ngợi công đức tiền nhân và đề cao đạo lý Nho học: “Tiên lễ xuất lai cầu môn dã/Hậu văn thư từ nghĩa nhân hiền”, “Tiền nhân kiến tạo tôn sùng chư vị văn nho hữu công đức/Hậu thế trùng tu cốt cách tri ân đạo nghĩa lưu vĩnh truyền”. Không gian sân phía trước tạo khoảng lùi trang nghiêm, góp phần tôn vinh công trình chính.
Miếu có quy mô bề thế, nền cao; phía trước có tường chắn đóng vai trò như bình phong phong thủy. Công trình kết cấu ba gian hai chái, gồm hai nếp kiến trúc: tiền đường dùng cho không gian hành lễ và hậu điện dành cho không gian thờ tự. Kết cấu miếu chủ yếu bằng gỗ theo kiểu vì kèo trính chồng trụ đội, tường bao xây gạch. Các cấu kiện gỗ được chạm trổ tinh xảo với các đồ án hoa sen, rồng, bát bửu, dây lá… thể hiện trình độ mỹ thuật và tay nghề cao của nghệ nhân xưa. Mái lợp ngói âm dương, bờ nóc uốn cong hình thuyền, trang trí đồ án “lưỡng long chầu nhật”. Mặt tiền hai chái có ô thoáng trang trí đồ án quả phật thủ bằng kỹ thuật vữa kết hợp khảm sành sứ, tạo điểm nhấn mỹ thuật đặc sắc.
Không gian nội thất di tích bố trí ba bàn thờ xây bằng gạch, tô trát vữa, phía trên đặt các khám thờ gỗ chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng trang nghiêm.
Bàn thờ gian giữa thờ Đức Khổng Tử, thần vị đề: “Chí Thánh Tiên sư Khổng Tử thần vị”. Khám thờ được chạm khắc công phu với các đồ án truyền thống như “lưỡng long chầu nhật”, lân, hoa mẫu đơn và hồi văn. Ngoài thần vị còn đặt tượng chân dung Khổng Tử bằng gỗ, sơn màu, tạo điểm nhấn tôn nghiêm cho không gian thờ tự trung tâm.
Gian bên trái thờ các bậc hiền triết Nho giáo gồm Tử Tư, Nhan Tử, Mạnh Tử và Tăng Tử. Khám thờ được chạm trổ, sơn son thếp vàng với các họa tiết “lưỡng long chầu nhật”, hoa dây, dây lá, chữ Thọ, dơi và dây nho. Các thần vị lần lượt ghi: “Đạt Thánh Tử Tư tử thần vị”, “Kế Thánh Nhan Tử thần vị”, “Á Thánh Mạnh Tử thần vị”, “Tôn Thánh Tăng Tử thần vị”.
Gian bên phải thờ Lão Tử cùng các tiên hiền, tiên triết và văn nhân chí sĩ. Khám thờ gỗ chạm trổ các đồ án tương tự khám thờ gian trái. Các thần vị lần lượt ghi: “Lão Thánh Lão Tử thần vị”, “Tiên hiền nho văn ái quốc liệt vị”, “Tiên triết văn nhân chí sĩ liệt vị”.
Di tích còn lưu giữ các hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa. Xà cò tại gian giữa ghi nội dung: “Tự Đức nhị thập tứ niên tuế thứ Tân Mùi trọng thu thượng hoán Cẩm Phô xã hương quan hương chức đồng trùng kiến”, “Duy Tân thất niên Quý Sửu thu đồng xã cải tạo”.
Bức hoành do Hàn lâm viện Kiểm thảo Nguyễn Tường Long tiến cúng vào năm 1930 (thuộc dòng họ khoa bảng nổi tiếng ở làng Cẩm Phô, có truyền thống khoa bảng tiêu biểu tại Hội An), có nội dung: “Văn Thánh miếu, Bảo Đại ngũ niên Canh Ngọ mạnh đông, Hàn lâm viện kiểm thảo Nguyễn Tường Long bái tiến”.
Hai cột gian giữa được trang trí cặp liễn đối gỗ, nội dung: “Tiên sư công đức thuỳ thanh sử/Nho học tinh tụy chiếu cổ kim”. Ngoài ra, tại gian giữa còn treo một cặp liễn đối khác, nội dung: “Hậu đế vương dĩ sinh sự nghiệp cao đế vương thượng/Trung thiên địa nhi lập công đức dữ thiên địa đồng”.
Trên thanh xiên gian giữa gắn bức hoành phi sơn son thếp vàng trang trí tinh xảo, do Bố Chánh sứ Vĩnh Long Nguyễn Tường Vĩnh phụng cúng năm 1850. Chính giữa bức hoành đề bốn đại tự Hán Nôm: “Thuỳ giáo vạn thế”; dòng lạc khoản đề: “Tự Đức tam niên mạnh hạ thượng hoán, Vĩnh Long Bố Chánh sứ Nguyễn phụng cúng”. Diềm bức hoành được chạm trổ đồ án “lưỡng long chầu nhật” với đường nét tinh xảo.
Hiện nay, di tích cơ bản còn giữ được quy mô và cấu trúc kiến trúc truyền thống. Công tác quản lý di tích hiện được địa phương phối hợp với cộng đồng dân cư thực hiện thường xuyên; hoạt động thờ tự, lễ lệ vẫn được duy trì theo lệ truyền thống.
Văn Thánh miếu Cẩm Phô là nguồn tư liệu thực địa sinh động cung cấp các thông tin về lịch sử, văn hóa của làng Cẩm Phô xưa cũng như đô thị thương cảng quốc tế Hội An trong lịch sử; đồng thời là nơi bảo lưu và phát huy truyền thống hiếu học, khoa bảng, tôn sư trọng đạo của cộng đồng địa phương.
Với những giá trị tiêu biểu đó, Văn Thánh miếu đã được UBND tỉnh Quảng Nam xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 21/01/2011.
Nguyễn Chí Trung (2019), Vài nét về làng Cẩm Phô, bài viết đăng tải trên website Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, đường link liên kết: https://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/vai-net-ve-lang-cam-pho-767.html