Trong nguồn tư liệu Di sản Hán Nôm ở Đô thị cổ Hội An, có một thể loại đặc trưng nhưng ít được đề cập đến trong các nghiên cứu, đó là văn tế. Với những âm hưởng mang âm điệu xót xa, thương cảm, bộc bạch những tâm tư, nỗi nhớ, sự tiếc thương vô hạn giữa tình cảm con người với nhau, văn tế Hán Nôm đã thể hiện một cách sâu sắc những giá trị nghệ thuật đặc trưng độc đáo, giá trị luân lý, hơn hết là đạo đức xã hội gắn với tư tưởng Nho giáo trong thời đại phong kiến nhà Nguyễn. Ngoài những giá trị mà văn tế mang lại, sâu sắc trong đó là những giềng mối đặc trưng của chế độ phong kiến mà trong văn tế khắc họa rõ nét, đó là mối quan hệ về tam cương, ngũ luâm, ngũ thường. Trong tư tưởng Nho giáo, các giềng mối đặc trưng thể hiện ở Ngũ luâm năm mối quan hệ cơ bản, gồm: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, và bạn bè; và Ngũ thường: là 5 đức tính cơ bản: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Những tư tưởng này đặt nền tảng cho một xã hội có trật tự, đạo đức và sự hài hòa, giúp cho con người, xã hội sống có trách nhiệm với gia đình, hướng đến việc đề cao sự tu dưỡng bản thân, cũng như làm gương cho người khác. Những giềng mối gắn liền với tư tưởng Nho giáo qua góc nhìn văn tế có thể thấy rất rõ nét trong nguồn tài liệu lưu trữ Hán Nôm được lưu giữ ở nhà thờ tộc Nguyễn Tường.
Văn tế được lưu giữ tại nhà thờ tộc Nguyễn Tường đa phần là những bài văn tế được Nguyễn Tường Phổ viết để nhớ đến tình cảm chốn quan trường đối với các vị quan lại cùng thời, những người bạn thân thiết, hay văn tế do ông soạn thảo để tế lễ dành cho những người quá cố trong gia đình, họ hàng, bạn bè… Bên cạnh đó, còn có những bài văn tế của các quan chức đương thời có mối quan hệ thân thiết với Nguyễn Tường Phổ, hay các vị học trò của Nguyễn Tường Phổ là các Cử nhân, Tú tài cũng đã gửi thư, những bài văn tế, đối viếng đến viếng tang ông.
Mục đích của văn tế, đó là thể hiện sự tiếc thương cũng như ca ngợi người đã qua đời, qua đó, tùy theo mối quan hệ với người mất, mà văn tế thể hiện được chữ hiếu - lòng hiếu thảo, sự tôn kính với tổ tiên, lòng trung thành với vua với nước, tinh thần lễ nghĩa, sự gắn kết dân tộc, thể hiện đạo lý cha mẹ, thầy trò, quân thần... Mỗi giềng mối quan hệ trong văn tế thể hiện nêu rõ được tư tưởng của Nho giáo trong giai đoạn lúc bấy giờ, những tư tưởng này ảnh hưởng trực tiếp đến chính trị, đạo đức, lối sống nhân sinh, giáo dục…
Văn tế chính là tập quán của xã hội, là hiện tượng bình thường của cuộc sống, ai ai cũng sẽ trải qua những cung bậc, việc sinh tồn - mất mát giữa cuộc đời này. Thế nên, văn tế đã tô điểm ngợi ca những đức tính tốt đẹp của mỗi người trong suốt hành trình sống còn. Vì khi viết nên những dòng văn tế, tác giả chỉ nhắc đến những điều tốt đẹp, những ưu điểm, cống hiến mà người mất đã làm được. Với giọng văn đầy chất ai oán, thương cảm, tuy nhiên vẫn ẩn chứa sự trang nghiêm, tự hào, tâm tình thân thiết, thế nên mỗi một bài văn tế, là một câu chuyện gợi mở nỗi niềm tâm tư của tác giả đối với mỗi đối tượng cụ thể. Qua đó, văn tế là một nét tâm tư của chính tác giả gửi gắm cho người đã khuất như trong Văn viếng Tả Tham tri Bộ Lại Nguyễn Đức Chánh, Văn viếng Bố Chánh tỉnh Quảng Bình Nguyễn Nghiêu Quỹ, Văn tế Tuần vũ Lê Lệ Phong, Văn viếng của học trò khóc Thứ Trai tiên sinh…
Với số lượng 10 bài văn tế trong giềng mối bạn bè được Nguyễn Tường Phổ soạn và gửi cho bạn bè đồng liêu, hay những bản văn tế được các học trò, những vị quan văn, võ, các bạn đồng môn trong tỉnh gửi đến viếng tang khi Nguyễn Tường Phổ mất, đây mối quan hệ đặc trưng trong xã hội thường xuất hiện trong văn tế, xuất phát từ tinh thần tôn trọng, kính nể, cũng như phương cách ứng xử giữa người với người chốn quan trường của các vị quan đương triều. Nguyễn Tường Phổ đã thể hiện tình cảm của mình thông qua những bản văn tế như Văn viếng Tả Tham tri Bộ Lại Nguyễn Đức Chính, Văn viếng Bố Chánh tỉnh Quảng Bình Nguyễn Nghiêu Quỹ, Văn tế Tuần vũ Lê Lệ Phong, được gửi gắm nhẹ nhàng nhưng vô cùng sâu sắc “gạt nước mắt mà làm bài viếng” gửi đến người bạn thân với lời văn ca ngợi mĩ miều, uyển chuyển “chỉ hành tắc tuyết bạch lan phương, phu văn tắc lộ thùy thiều phát” (hành vi thì như tuyết trắng lan thơm, văn chương thì như sương rơi hoa thiều nở). Qua những mối quan hệ gắn kết đó, càng hiểu rõ tinh thần của chính vị khoa bảng Nguyễn Tường Phổ khi mất, ông được đông đảo học trò, bạn bè tiếc thương qua những bài viếng như: Bài văn viếng của các học trò khóc Thứ Trai tiên sinh, Văn hội huyện Diên Phước cùng lạy viếng, Văn viếng Thứ Trai tiên sinh do Nhị giáp Tiến sĩ vốn làm Tri phủ Điện Bàn Sư Hối Nguyễn Văn Hiển soạn…
Với những lời văn bi ai trong 2 bài thơ viếng đối với những người trong gia đình, đó là Bài văn Mẹ tế con gái được khắc họa sâu thẳm về tình cảm trong những giây phút sinh ly tử biệt: “Con cháu ở quê nhà bú mớm, nửa đêm buồn thảm; Ngoài rèm chim én thỏ thẻ, thấp thoáng bay về; Đầu cành chim quạ kêu vang, đợi mẹ lành mới; Buồn cho trâm khăn còn đó, con đã đi đâu; Thương thay khung cửi còn đây, tình mẹ bao xiết”. Hay như tấm lòng của người anh đối với em gái trong Bài văn anh tế em gái: “Em gái phượng về đan huyệt, hạc trở lại quỳnh đài. Tiếng hoàn bội leng keng phiên thự, Thương sắt cầm bặt điêu ngạc hoa. Bóng nhạt vườn xuân, đào lý nhờ liền cành thưở trước. Đến nay khóc măng, mẹ xót thương bóng hình cách biệt. Đoái nghĩ mẹ già, con trẻ thương cho dung nghi khuôn mẫu vẫn còn”. Những tâm tư này đều xuất phát từ tấm chân tình và mối quan hệ gắn bó thân thuộc, do đó lời ai điếu rất động lòng người. Những tác phẩm này đều hướng đến nền tảng đạo đức trong gia đình và xã hội, cũng như khẳng định những giá trị luân thường đạo lý, tôn trọng những trật tự trong xã hội phong kiến.

Nội dung "Bài văn Mẹ tế con gái" được lưu giữ tại nhà thờ tộc Nguyễn Tường
Ngoài văn, thơ còn có thể loại trướng liễn đối viếng, cũng mang nội dung trang trọng, bày tỏ sự thương tiếc, xót xa của người sống. Tuy nhiên, trướng liễn với 2 vế đối đã thể hiện rõ nét về gia thế, danh dự, phẩm hạnh với người quá cố. Trong tài liệu lưu trữ tại nhà thờ tộc Nguyễn Tường, có đến 40 trướng liễn được ghi chép từ các vị quan, khoa bảng, Tri huyện, Tri phủ, Giáo thụ, Chủ sự… như Hiệp biện Lễ Bộ Thượng thư Phan Thanh Giản, Thái thú phủ Giản Cát Nguyễn Sỹ Long, Phạm Phú Thứ, Giải nguyên Đặng Huy Trứ… với nội dung đề cao đạo lý “trung, hiếu, tiết, nghĩa”, công lao của Nguyễn Tường Phổ, ca ngợi về tấm gương đạo đức, sự nghiệp, lối sống của ông được thể hiện qua nhiều hình ảnh mang tính ước lệ như hạc vàng, mây trời, núi sông: “Bằng điểu chí kim bi giá nghị/Hạc ô khả xử kiến đinh uy” (nghĩa: Chim bằng, chim sẻ tới nay, vẫn thương tình bạn/Con quạ, con hạc xử thế, cùng nhớ ngày tang).
Đặc biệt, việc sử dụng những điển cố, điển tích về hình ảnh trong văn tế như “cốt tùng”, “lan tồi ngọc chiết” hay hình ảnh cây cam đường của Thiệu Bá, … càng làm tăng ý nghĩa của sự kiên cường, bất khuất trước những nghịch cảnh, gợi nhớ nên những hình ảnh vững chãi trên núi cao. Hay hình ảnh nhân vật Y Doãn với ý nghĩa biểu tượng cho một đại thần tài ba, có công lớn phò tá vua khai quốc, ổn định triều chính.
Con người lấy lễ để biết đối nhân xử thế, từ lòng thành kính, hiếu nghĩa với cha mẹ, tôn trọng với người trên, từ đễ với anh em thân thích, là bạn hiền với bằng hữu, lấy nhân để đối với người xung quanh… Với những lý tưởng nhân đạo, khát vọng hòa bình mà Nho giáo đã thể hiện rõ quan điểm, tư tưởng, tuy hạn chế về mặt lịch sử, thời đại, tuy nhiên những giềng mối quan hệ đặc trưng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tùy thuộc vào danh phận, địa vị mỗi người mà Nho giáo quy định những yếu tố phù hợp. Việc tổng hòa các mối quan hệ theo tư tưởng Nho giáo đã xâm nhập, hòa hợp, tiếp nối với các tư tưởng ở Việt Nam đã tạo nên những giềng mối giữa người với người từ xưa, đã thể hiện được trách nhiệm, vai trò và cách ứng xử theo cho phù hợp với từng mối quan hệ. Không xét về môi trường, hoàn cảnh sử dụng văn tế, thì ngữ nghĩa của văn tế đối với những giá trị cốt lõi trong nền văn học thời kỳ trung đại cũng là một trong những thể loại có giá trị đặc trưng về nội dung, hình thức, nghệ thuật.
Về giọng điệu trong văn tế là những giọng điệu tha thiết, ai oán, là phương tiện thiết yếu để người còn sống tâm tình, tâm sự với người đã khuất. Ngoài ra, khi trong một số bài văn tế, còn có những chất giọng pha lẫn tự hào, hãnh diện về những kết quả, sự cống hiến của người mất để lại. Giọng điệu bi ai trong văn tế xuất phát từ sự tưởng kính, nhưng giọng tự hào và hãnh diện xuất phát từ sự kính ngưỡng đối với những người đã khuất. Mỗi tâm tư tình cảm, tinh thần thiêng liêng được xuất phát từ những tấm lòng trọn vẹn nghĩa ân tình đối với mỗi người, mỗi mối quan hệ khác nhau.
Văn tế Hán Nôm thời trung đại là sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng chính trị, đạo đức phong kiến và nghệ thuật ngôn từ cổ điển, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử nhất định, và có ảnh hưởng không nhỏ đến những giá trị ngày nay. Từ một thể loại gắn liền với chức năng nghi lễ mang âm điệu xót xa, mỗi một nội dung trong văn tế đã tạo nên những nét đặc sắc và phức điệu, đa dạng.
Di sản tư liệu Hán Nôm ở Hội An được quan tâm từ rất sớm, có những đánh giá sơ lược về trữ lượng tư liệu qua nhiều lần khảo sát, sưu tầm tài liệu tại địa phương, tuy nhiên trữ lượng của văn tế Hán Nôm sưu tầm được còn hạn chế, chưa có nhiều nghiên cứu, cũng như phiên dịch, chưa khai thác phát huy hết những giá trị văn hóa, văn học mà thể loại này đã dung chứa. Trong di sản Hán Nôm ở Hội An, bộ phận văn bản văn tế chiếm một tỷ lệ không lớn nhưng lại là di văn quan trọng… Hi vọng trong tương lai, sẽ có những bước tiếp nối và đi sâu hơn nữa về loại hình văn tế Hán Nôm trong bối cảnh bảo tồn, và phát huy nếp văn hóa cổ phong ở địa phương.