Tổ chức không gian - kinh tế làng xã ở Hội An đầu thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ triều Nguyễn

Chủ nhật - 18/01/2026 21:34
Trong hệ thống quản lý lãnh thổ của nhà nước quân chủ Việt Nam, địa bạ giữ vai trò là loại hình văn bản để xác lập phạm vi hành chính, cơ cấu sở hữu ruộng đất và tổ chức xã hội ở cấp làng xã. Không chỉ phục vụ mục đích thuế khóa và quản lý dân cư, địa bạ còn phản ánh một cách toàn diện mối quan hệ giữa con người với đất đai, giữa nhà nước với cộng đồng cư dân ở địa phương.
 
Đối với Hội An, một đô thị thương cảng hình thành và phát triển dựa trên các cộng đồng làng xã, hệ thống địa bạ triều Nguyễn được lập vào đầu thế kỷ XIX có giá trị đặc biệt, không chỉ ghi nhận hiện trạng ruộng đất mà còn góp phần hình dung cấu trúc, tổ chức không gian, kinh tế - xã hội của toàn bộ khu vực đô thị - nông thôn gắn với thương cảng Hội An trong lịch sử.
 
toan canh hoi an

     Theo tư liệu Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An sưu tầm được[1], có 17 làng xã ở Hội An được lập địa bạ thời vua Gia Long, gồm: Đại An, Đông An, Hội An, Tân An, Kim Bồng, Phong Hộ, Minh Hương, An Mỹ, Hoa Phô, Để Võng, Tân Hiệp, Xuân Mỹ (lập năm Gia Long thứ 13 - 1814); Thanh Châu, Phước An (lập năm Gia Long thứ 14 - 1815); Hòa An, Cẩm Phô, Thanh Hà (lập năm Gia Long thứ 17 - 1818). Các bộ địa bạ này thống kê chi tiết đất công, tư điền, đất thổ cư, đất mộ địa, đất miếu, đình, chùa Phật, đất hoang và một số loại đất khác,… là nguồn thông tin có độ tin cậy cao khi nghiên cứu về các làng xã ở Hội An.

     Về tổ chức không gian làng xã, trong hệ thống quản lý lãnh thổ của triều Nguyễn, địa bạ giữ vai trò như một công cụ để kiểm kê, kiểm soát và tổ chức cơ cấu ruộng đất ở cấp địa phương/làng xã. Mỗi bộ địa bạ đều được ghi chép tỉ mỉ từng thửa đất với các thông tin về vị trí, diện tích, loại hình sử dụng và chủ sở hữu, nhờ đó phản ánh tương đối đầy đủ bức tranh kinh tế, xã hội của từng cộng đồng cư dân các làng xã. Đối với các làng xã ở Hội An, không gian kết hợp giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, giá trị của địa bạ càng trở nên đặc biệt, bởi không chỉ góp phần khái quát phạm vi đất đai của từng làng xã mà còn cả cơ cấu tổ chức xã hội, nghề nghiệp của mỗi cộng đồng cư dân.

     Từ tư liệu địa bạ triều Nguyễn, có thể xác định ba yếu tố nền tảng làm nên không gian đặc trưng của các làng xã Hội An.

     Thứ nhất là hệ thống ranh giới hành chính giữa các làng xã, được xác lập bằng các mốc giới như cột gỗ, cột đá, đường đi, bờ ruộng, hay dựa vào các yếu tố tự nhiên như dòng sông, gò đất, xứ đất... Trong địa bạ, mỗi làng xã đều được xác định rõ tứ cận (Đông, Tây, Nam, Bắc), qua đó không chỉ định vị vị trí của làng trong tổng thể không gian Hội An mà còn phân định rạch ròi phạm vi quản lý hành chính và quyền sở hữu đất đai của từng cộng đồng cư dân.

     Thứ hai là cơ cấu diện tích đất đai, bao gồm ruộng canh tác, đất thổ cư, đất công và đất mộ, đất dành cho đình, chùa, miếu; cơ cấu này phản ánh không chỉ tiềm lực kinh tế mà còn cả đời sống tinh thần và tổ chức xã hội của làng xã. Chẳng hạn, tại xã Hoa Phô, địa bạ ghi rõ chi tiết các loạt đất công, tư các loại đến đất tín ngưỡng và đất mồ mả: “Đất công là 61 mẫu 3 sào 14 thước 2 tấc. Đất tư là 65 mẫu 2 sào 2 tấc 5 phân. Đất miếu thần, đất chùa là 1 sào. Đất mộ địa là 50 mẫu 6 sào 13 thước. Đất hoang, cồn cát là 36 mẫu 6 sào 1 thước 5 tấc[2].

     Thứ ba là hình thức sở hữu, trong đó tồn tại song song đất công làng xã, đất tư điền của các hộ gia đình và đất thuộc về các cơ sở tín ngưỡng, cho thấy sự đan xen giữa lợi ích cộng đồng, quyền tư hữu và không gian linh thiêng trong cấu trúc đặc trưng của làng xã người Việt.

     Qua tư liệu địa bạ có thể thấy rằng, mỗi làng ở Hội An không đơn thuần chỉ như một đơn vị hành chính trên bản đồ, mà như một thực thể kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, có phạm vi xác định, cơ cấu đất đai đặc thùvà một mô hình tổ chức phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa cư trú, sản xuất và tín ngưỡng. Chính sự đan kết ấy đã tạo nên bản sắc và sức sống của các làng xã Hội An trong lịch sử hình thành và phát triển của Đô thị thương cảng Hội An.
 
     Về sự phân hóa chức năng làng xã, một trong những giá trị nổi bật của hệ thống địa bạ triều Nguyễn là khả năng phản ánh sự phân hóa chức năng kinh tế giữa các cộng đồng làng xã trong cùng một không gian Hội An. Số liệu ruộng đất cho thấy cơ cấu sở hữu rất đa dạng: có những làng vừa có ruộng công vừa có ruộng tư như Cẩm Phô, Thanh Hà, Hoa Phô và An Mỹ (làng Cẩm Phô công điền 156 mẫu, tư điền 111 mẫu; làng Thanh Hà công điền là 190 mẫu, tư điền là 300 mẫu; làng Hoa Phô công điền 61 mẫu, tư điền 65 mẫu; làng An Mỹ công điền 20 mẫu, tư điền 38 mẫu); có những làng chỉ có ruộng tư như Thanh Châu, Tân Hiệp, Để Võng, Tân An, Xuân Mỹ và Kim Bồng (diện tích lớn nhất với 518 mẫu đất trồng dâu); trong khi đó một số làng khác chỉ có ruộng công như Đại An (diện tích lớn nhất với 453 mẫu)[3], Đông An, Hòa An, Hội An, Phong Hộ, Minh Hương và Phước An.

     Bên cạnh ruộng lúa, địa bạ còn ghi nhận sự tồn tại của nhiều loại hình sử dụng đất khác gắn với hoạt động kinh tế chuyên biệt. Ở một số làng, diện tích trồng dâu, mía, dừa nước… chiếm tỷ lệ đáng kể như Kim Bồng (518 mẫu đất trồng dâu), Thanh Hà (35 mẫu đất trồng dâu, 25 mẫu đất trồng mía), Cẩm Phô (28 mẫu đất trồng dâu), An Mỹ (7 mẫu 8 sào trồng dừa nước)…; ở những làng ven sông, ven biển và trên đảo, các hoạt động đánh bắt thủy sản giữ vai trò quan trọng như làng Để Võng, Tân Hiệp[4]. Sự đa dạng này cho biết nền kinh tế Hội An không chỉ dựa vào lúa gạo mà còn các ngành nghề sản xuất khác, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của khu phố thị và hoạt động giao thương, buôn bán.

     Từ những số liệu trên cho biết Hội An được tổ chức như một chỉnh thể không gian phân tầng, trong đó các khu vực có chức năng khác nhau nhưng liên kết chặt chẽ với nhau. Khu vực dọc theo sông Thu Bồn và các trục giao thông chính tập trung mật độ đất thổ cư cao, ít hoặc không có ruộng canh tác, là nơi phát triển phố xá, chợ, kho hàng và bến thuyền, tiêu biểu là các làng xã: Hội An, Minh Hương, Cẩm Phô, Hoa Phô... Đây chính là không gian diễn ra các hoạt động thương mại trong nước và quốc tế; trong đó xã Minh Hương, với cộng đồng cư dân gốc Hoa, giữ vai trò trung gian thương mại quan trọng, góp phần tạo nên tính chất đa văn hóa và quốc tế hóa của Hội An.

     Bao quanh khu vực phố cảng là những làng có mật độ cư trú cao và quỹ đất gắn với hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, tiêu biểu như Kim Bồng và Thanh Hà. Kim Bồng nổi tiếng với nghề mộc và đóng tàu thuyền, trong khi Thanh Hà chuyên về gốm và vật liệu xây dựng. Cơ cấu đất đai trong địa bạ cho thấy tại đây tập trung nhiều đất thổ cư, đất tín ngưỡng và mộ địa, phản ánh sự hình thành của các cộng đồng nghề nghiệp đông đúc, cung cấp trực tiếp sản phẩm và dịch vụ cho đô thị và thương cảng.

     Xa hơn nữa là các làng có diện tích đất tự nhiên và ruộng canh tác lớn như Đại An, Đông An, Hòa An, Thanh Châu, An Mỹ, Phong Hộ và Tân Hiệp. Phân bố ven sông, ven biển và trên đảo, các làng này đảm nhiệm vai trò sản xuất lúa gạo, dâu tằm, mía và khai thác thủy sản,… cung cấp cho khu phố thị. Chính sự kết hợp giữa các không gian cư trú - sản xuất - thương mại này đã tạo nên cấu trúc vận hành thống nhất của Hội An như một đô thị - làng xã liên hoàn trong lịch sử.

     Qua những thông tin ghi chép trong địa bạ triều Nguyễn, có thể thấy Hội An không phải là một “phố” tách rời nông thôn, mà là một hệ thống làng xã phân hóa chức năng nhưng liên kết chặt chẽ. Mỗi làng xã đảm nhiệm một vai trò trong tổng thể: làng xã thương nghiệp tổ chức giao thương, buôn bán; làng nghề cung cấp sản phẩm và dịch vụ; làng nông - ngư nghiệp bảo đảm nguồn lương thực và nguyên liệu. Chính cấu trúc không gian - kinh tế mang tính hệ thống này đã tạo nền tảng bền vững cho sự thịnh vượng lâu dài của Đô thị thương cảng Hội An trong lịch sử.
 
[1] Bản sao lưu tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An.
[2] Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2020), Làng xã ở Hội An qua tư liệu Địa bạ triều Nguyễn Quảng Nam xã chí, Nxb. Đà Nẵng, tr.225.
[3] Phạm Phước Tịnh, “Nhận diện lịch sử - văn hóa làng xã ở Hội An qua tư liệu địa bạ triều Nguyễn và Quảng Nam xã chí”, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2024), 25 năm bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An, Nxb. Đà Nẵng, tr.288.
[4] Phạm Phước Tịnh, bài viết đã dẫn.

Tác giả: Nguyễn Văn Thịnh

Nguồn tin: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây