Mộ vợ chồng ông Tăng Điềm Dật

Thứ tư - 04/02/2026 22:45
Tại khu vực phường Hội An Tây (đặc biệt là khu vực thuộc phường Thanh Hà trước đây) hiện tồn nhiều ngôi mộ cổ với kiểu dáng, phong cách khá đặc trưng, là minh chứng sinh động cho quá trình định cư sinh sống của nhiều thành phần cư dân tại vùng đất Hội An từ xưa.
     Hầu hết các ngôi mộ cổ có quy mô lớn, chứng tỏ chủ nhân là những người có điều kiện kinh tế khá giả lúc bấy giờ. Trong số đó, có 13 ngôi mộ ở Hậu Xá được tạo lập trong nửa đầu thế kỷ XX, phân bố khá gần nhau, có nhiều điểm tương đồng trong phong cách kiến trúc và ít nhiều mang ảnh hưởng kiến trúc Pháp. Mộ vợ chồng ông Tăng Điềm Dật tọa lạc tại tổ 48, Hậu Xá có thể xem là một trong những ngôi mộ cổ hình thức kiến trúc mộ táng tiêu biểu của giai đoạn này. 
 
tong the ngoi mo
Tổng thể ngôi mộ - Ảnh: Hoàng Phúc
 
     Ông Tăng Điềm Dật thuộc phái I tộc Tăng - một tộc họ thuộc làng Minh Hương ở Hội An. Tộc Tăng có nguyên quán huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, sang Việt Nam cư trú, sinh sống tại Hội An cách đây khoảng trên 200 năm. Tính từ đời ông thủy tổ đến nay đã được 12 đời, phát triển thành 3 phái[1]. Căn cứ theo gia phả tộc Tăng (từ đời 1 đến đời 8) tại từ đường phái I tộc Tăng (nhà số 16 đường Nguyễn Thị Minh Khai), ông họ Tăng, thụy Điềm Dật có tên thật là Tăng Thức, thuộc đời thứ 7. Ông từng làm quan triều Nguyễn, thụy hiệu Phụng nghị đại phu[2]. Ông có hai người vợ: chánh thất là bà Lê Thị Thuận (có 10 người con), thứ thất là bà Huỳnh Thị Nồi (chỉ có 01 con gái).

     Mộ vợ chồng ông Tăng Điềm Dật thuộc loại mộ đôi. Mộ phía bên trái (từ trong nhìn ra, hướng quy ước) là mộ ông Tăng Điềm Dật, bia mộ được tạo lập vào năm Bảo Đại thứ 11 (tức năm 1936). Mộ phía bên phải là mộ bà Lê Thị Thuận - vợ chính ông Tăng Điềm Dật. Theo nội dung bia mộ, bà có tên hiệu Nhu Trang, tên thụy Hiền Thục, bia mộ được tạo lập vào năm Bảo Đại thứ 12 (tức năm 1937). Ngoài ra, giữa hai bia mộ còn có một tấm bia ký lập năm Bảo Đại thứ 11. Theo nội dung các văn bia, con trai ông bà Tăng Điềm Dật có nhiều người làm quan cho triều Nguyễn.

     Ngôi mộ xoay mặt về hướng đông nam. Toàn bộ các hạng mục của ngôi mộ bố cục đăng đối trong khoảnh đất rộng 12,72m, dài 16,41m, gồm: khoảng sân trước với tường rào thấp, nhà bia và tường rào bao bọc khuôn viên mộ, nấm mộ, bình phong hậu. Tổng thể công trình còn rất hoàn chỉnh, quy mô bề thế, kiến trúc khá đồ sộ, kết hợp nhuần nhuyễn hình thức kiến trúc Pháp với các họa tiết trang trí truyền thống mang ý nghĩa cát tường độc đáo, giá trị thẩm mỹ cao, có thể tạm nhận định ngôi mộ mang phong cách kiến trúc Pháp - Hoa. Trải qua thời gian dài, dưới tác động của thời tiết, toàn bộ ngôi mộ bao phủ một màu xám đen của rêu mốc, chỉ còn thấy dấu vết màu vôi ở một vài chi tiết kiến trúc. Qua đó, có thể nhận thấy màu sắc chủ đạo được sử dụng tại di tích: trắng, xanh dương, vàng và đỏ (chu).

     Khoảng sân trước có hình bát giác (các cạnh không đều nhau), nền láng xi măng. Phía trước có hai trụ biểu rất lớn, tiết diện tròn, đầu trụ đắp gờ chỉ và hồi văn biến thể chữ T. Đỉnh trụ gắn con lân bằng vữa vôi, tư thế chầu vào chính giữa, đầu hướng vào bên trong mộ. Bao quanh hai bên sân là tường rào xây gạch, bổ trụ gạch. Trụ biểu cùng với trụ phía trước ở tường rào hai bên tạo thành 3 lối vào. Tường rào chia làm 3 đoạn, bên dưới xây kín, đắp vữa pano; bên trên xây ô thoáng hình chữ nhật (đoạn chính giữa) và hoa thị 4 cánh (hai bên). Cạnh rào góc phía sau trang trí hình sư tử[3]. Chi tiết trang trí này tạo sự kết nối về mặt kiến trúc giữa hạng mục tường rào và trụ biểu nhà bia.

     Qua khoảng sân là ba nhà bia ở giữa và lối vào ngôi mộ ở hai bên, có bậc tam cấp ở lối vào dẫn từ sân trước vào khu mộ. Trụ biểu ở hai góc có tiết diện vuông, mặt trước thân trụ đắp nổi hình [lá chuối] (ba tiêu diệp). Đầu trụ đắp gờ tạo ô hộc ở cả bốn mặt, giữa có đắp các loại quả để trang trí. Đỉnh trụ hình bát giác chia thành hai phần: phần dưới thuôn nhỏ dần (về phía dưới); phần trên đắp dây lá và hoa quả. Hiện một phần vữa tô trụ biểu bên trái bị bong tróc, tô trát lại bằng vữa xi măng nên bị mất một số chi tiết trang trí.

 
loi vao ngoi mo
Hạng mục nhà bia và lối vào viếng mộ - Ảnh: Hoàng Phúc
 
     Lối vào hai bên có phần tường bên trên được xây tạo hình cuốn thư rất uyển chuyển, khoảng giữa mặt trước đắp nổi hình dây lá, mặt sau đắp nổi chữ 壽 (Thọ) tròn đan lồng với hoa, dây lá. Trụ lối vào và ba nhà bia liên kết với nhau bằng các mảng tường nhỏ trang trí giống nhau. Đoạn trên và dưới xây đặc, đắp gờ chỉ và hoa, đoạn giữa thông thoáng, lắp bông gió hình hai hình thoi lồng vào nhau.

     Ba nhà bia nằm liền kề và có mặt trước thẳng hàng, xây gạch thẻ, trần bê tông gạch vữa cuốn vòm và có hình thức kiến trúc khá tương đồng. Trong đó, nhà bia mộ ở hai bên và nhà bia ký ở chính giữa. Cụ thể như sau:

     - Nhà bia bên trái (theo hướng quy ước): Phía trước xây hình cuốn vòm, đắp vữa trang trí hình hoa văn gãy khúc kết hợp dây lá theo phương ngang và đồng tâm kết (nút thắt cát tường) theo phương đứng. Hệ mái gồm 4 mái dốc, đắp giả ngói ống, đuôi mỗi vồng ngói kẻ chữ 壽 (Thọ) tròn. Bờ nóc trang trí đồ án hoa văn gãy khúc hóa rồng chầu chữ 壽 (Thọ), đuôi bờ chảy trang trí hoa văn gãy khúc. Khu đĩ đắp hình quả, dây lá.

     Bia mộ gắn cố định vào tường sau của nhà bia. Mảng tường phía trên bia đá đắp nổi dây lá cách điệu hình dơi dang rộng cánh, quét vôi màu vàng, xanh dương. Bia bằng cẩm thạch hình chữ nhật vát xéo hai góc bên trên. Diềm bia gồm những đường gờ chỉ chạy song song, không có họa tiết trang trí. Nội dung văn bia (phiên âm)[4]:

Đồng An
Minh Hương
Bảo Đại thập nhất niên Bính Tý hạ tứ nguyệt cát nhật.
Hoàng triều sắc tặng Phụng Nghị Đại phu hiển khảo lưỡng khoa Tú tài tự Kính Chi, thụy Điềm Dật Tăng phủ nghiêm quân chi giai thành.
Nam Huyên Đãi chiếu[5] Tú tài, Oánh, Ngưng Hồng lô tự khanh[6], Dục Thị độc học sĩ[7]
Nội tôn Thự, Huống, Tứ, Tắc, Phú; Bảo, Lãi, Hối, Tài, Tư; Trừng, Khiết, Tế, Cảnh, Hoạt; Phiếm, Đãng, Hồng
Tằng tôn Bỉnh, Thưởng, Duật
Đồng lập thạch.

     - Nhà bia ký chính giữa có quy mô lớn hơn hai nhà bia còn lại. Phía trước xây hình cuốn vòm, đắp vữa trang trí hình hoa, dây lá ở phía trên và cây trúc ở hai bên. Hệ mái gồm 4 mái dốc, đắp giả ngói ống, đuôi mỗi vồng ngói kẻ chữ 卍 (Vạn) tròn. Bờ nóc trang trí đồ án dây lá hóa rồng chầu (?), đuôi bờ chảy trang trí hoa dây. Khu đĩ đắp hình quả, dây lá.

     Bia ký[8] gắn cố định vào tường sau của nhà bia. Bia bằng cẩm thạch hình chữ nhật vát xéo hai góc bên trên, không có diềm bia. Bao quanh bia đắp vữa tạo gờ chỉ như diềm bia, giữa hai gờ trang trí chữ 卍 (Vạn) tròn kết hợp với hai hình tròn và hai hình thoi đan chéo vào nhau. Mặc dù có cùng kích thước với bia mộ nhưng bia ký được đặt trên bệ, có diềm bao bằng vữa nên tạo hiệu ứng thị giác bia ký lớn hơn bia mộ.

     - Nhà bia bên phải: có kích thước và hình thức kiến trúc, họa tiết trang trí hoàn toàn tương đồng với nhà bia bên trái, kể cả bia mộ. Nội dung văn bia (phiên âm):

Đồng An
Minh Hương
Bảo Đại thập nhị niên Đinh Sửu hạ ngũ nguyệt cát nhật
Hoàng triều sinh phong Chánh ngũ phẩm Nghi nhân hiển tỷ Phụng Nghị Đại phu Tăng Kính Chi nguyên phối hiệu Nhu Trang thụy Hiền Thục Lê mẫu thị chi giai thành.
Nam Huyên Đãi chiếu Tú tài, Oánh, Ngưng Hồng lô tự khanh, Dục Thị độc học sĩ
Nội tôn Thự, Huống, Tứ, Tắc, Phú; Bảo, Lãi, Hối, Tài, Tư; Trừng, Khiết, Tế, Cảnh, Hoạt; Phiếm, Đãng, Hồng
Tằng tôn Bỉnh, Thưởng, Duật, Tiếp
Đồng lập thạch.

     Tường rào phía sau liên kết với nhà bia và bình phong hậu tạo khuôn viên khép kín. Các bổ trụ chia tường rào hai bên thành 3 đoạn, mỗi đoạn trang trí các khuôn bông chữ 壽 (Thọ) bằng bê tông đúc sẵn nối tiếp nhau. Phía trên hai đầu tường rào có gắn con giống hình hoa văn gãy khúc tạo sự liên kết kiến trúc với các trụ biểu ở lối vào phía trước và bình phong hậu. Hai nấm mộ đều có hình bầu dục, thành mộ xây gạch. Bên trong thành mộ đổ đầy cát, không xây.

 
binh phong
Bình phong hậu - Ảnh: Hoàng Phúc
 
     Bình phong hậu nằm phía cuối khuôn viên, tạo hình kiểu cuốn thư gồm 5 mảng tường lớn đối xứng qua trục giữa với tỉ lệ kiến trúc cân đối, hài hòa, trang trí nhiều đồ án mang ý nghĩa cát tường, có giá trị thẩm mỹ cao. Phần diềm đầu tường và chân tường có các đường gờ chỉ chạy song song dọc theo cạnh tường, khoảng giữa hai gờ trang trí hồi văn hình hai vòng tròn và hai hình thoi đan vào nhau. Phía ngoài cùng ở hai đầu bình phong hậu là hai trụ biểu hình thoi, đầu trụ xây giật cấp, đỉnh trụ hình chóp bút. Hai mảng tường ngoài cùng có ô trang trí phù điêu hoa sen. Hai mảng tường ở giữa xây chồm ra phía trước, trang trí phù điêu chim phượng ngậm dải lụa buộc quyển thư (mảng tường bên trái) và pho sách (mảng tường bên phải). Mảng tường chính giữa trang trí chữ 福 (Phúc) tròn, bao quanh 4 góc là 4 con dơi dang rộng cánh và cánh lồng vào nhau. Phần đế trang trí đồ án cái quạt buộc dải lụa - một đồ vật trong bát bửu. Trước đây, trên đỉnh tường chính giữa có gắn con giống hoa dây trang trí, nay không còn (đã sứt gãy). Ngoài ra, bình phong còn bị nứt, bong tróc vữa tô, hư hại phần trên của mảng tường nửa bên trái bình phong.

     Mộ vợ chồng ông Tăng Điềm Dật được tạo lập năm 1936 và 1937, đến nay đã ngót nghét 90 năm. Ngôi mộ mang giá trị thẩm mỹ cao, kết hợp tài tình các đồ án trang trí mang ý nghĩa cát tường dân gian và phào chỉ, họa tiết cổ điển phương Tây. Ngôi mộ này, cùng với nhiều ngôi mộ mang ảnh hưởng kiến trúc Pháp khác tại khu vực Hậu Xá hiện đang nằm trong khu quy hoạch Dự án khu dân cư dọc tuyến đường Điện Biên Phủ nối dài. Mong rằng một phương án quy hoạch tốt sẽ được đề xuất, giúp những ngôi mộ này không bị lép vế trước những công trình kiến trúc mới, đồng thời giúp phát huy giá trị di tích hiệu quả, để ngày càng có nhiều người biết và hiểu hơn về một loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo này ở Hội An.

    
 
* Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Hữu Thông (2001), Mỹ thuật Huế - Biểu tượng và nghệ thuật trang trí kiến trúc, Nxb Thuận Hóa.
2. Đỗ Văn Ninh (2019), Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb Hồng Đức.
 

[1] Thông tin này do ông Tăng Minh, đời thứ 11, đại diện phái I tộc Tăng cung cấp.
[2] Theo Đỗ Văn Ninh (2019), Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb Hồng Đức, trang 513:
            1. Thời Nguyễn đặt thụy hiệu ban cho các quan. Đây là thụy hiệu ban cho các quan trật Chánh ngũ phẩm văn giai. Những chức quan này thuộc Đường quan.
            2. Ở Trung Quốc là danh chức tản quan bên văn. Thời Kim bắt đầu đặt, trật Chánh phẩm lục hạ. Thời Nguyên thăng lên Tòng ngũ phẩm. Chế độ nhà Minh, cho Chánh ngũ phẩm, bậc sơ thụ.
[3] Theo Nguyễn Hữu Thông (2001), Mỹ thuật Huế - Biểu tượng và nghệ thuật trang trí kiến trúc, Nxb Thuận Hóa:
                Sư tử có thể đã được giới thiệu muộn hơn trong văn hóa Trung Việt từ mối quan hệ truyền bá của Phật giáo. Hình ảnh của nó như là vị hộ pháp bảo vệ chốn linh thiêng. …Nó giữ vai trò bảo vệ chống lại các thế lực bất chính, tà ma. Và hình ảnh của nó thường được thể hiện trong trang trí không có nét truyền thống cũng như tính tả thực.
[4] Phiên âm do CN. Lê Thị Lưu - Nhân viên Phòng Nghiên cứu Khoa học thực hiện.
[5] Theo Đỗ Văn Ninh (2019), sđd, trang 174:
            Tên chức quan
            1. Trong Hàn lâm viện có chức Hàn lâm đãi chiếu, giữ việc liên quan tới văn từ. Sau đổi gọi Hàn lâm cung phụng; lại có nhân viên cung phụng trong nội đình là Họa đãi chiếu, Y đãi chiếu.
            2. …Thời Nguyễn là một viện hàm cuối trong Hàn lâm viện. Thường chỉ được trật Tòng lục phẩm. Các bộ viện cũng bố trí Hàn lâm viện đãi chiếu làm việc Thư lại, Bút thiếp thức, …
[6] Theo Đỗ Văn Ninh (2019), sđd, trang 332, 333:
Thời Lê có lập Hồng lô tự, là một trong 6 tự là Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Thượng bảo tự và Hồng lô tự. … Trưởng quan các tự là Tự khanh.
            Thời Nguyễn, Hồng lô tự do Tự khanh trật Chánh tứ phẩm và Tự thiếu khanh trật Chánh ngũ phẩm đứng đầu. Chuyên lo việc nghi lễ trong các khoa thi như xướng danh, yết bảng.  
[7] Theo Đỗ Văn Ninh (2019), sđd, trang 665, 666:
            1. Tên chức quan.
            Thời Tống, Kim Hàn lâm học sĩ viện có chức quan Hàn lâm thị độc học sĩ, Hàn lâm thị giảng học sĩ giữ việc giảng sách sử, giảng kinh nghĩa làm cố vấn cho Hoàng đế. Nguyên. Hàn lâm kiêm Quốc sử viện cải gọi Thị độc học sĩ.
2. … Thời Lê Hàn lâm viện thị độc trật Chánh ngũ phẩm. Thị giảng trật Tòng ngũ phẩm (theo Lê triều quan chế). Căn cứ quan chế Hồng Đức và quan chế Bảo Thái đều không thấy có Thị độc học sĩ và Thị giảng học sĩ. 
[8] Chúng tôi sẽ giới thiệu nội dung bia ký này trong một bài viết khác.
 

Tác giả: Trần Thanh Hoàng Phúc

Nguồn tin: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây