Một vài sự kiện liên quan đến di tích cổ ở vùng đất Hội An trong năm Ngọ

Thứ hai - 02/03/2026 02:59
Trong văn hóa cổ truyền của dân tộc nói riêng, vùng Á Đông nói chung, ngựa là linh vật đứng ở vị trí thứ 7 trong số 12 con giáp tương ứng với 12 địa chi (Thập nhị địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi); ngựa là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực, sự bền bỉ, lòng trung thành, khát vọng tiến lên và thành công.
tin nghia tu
Di tích Tín Nghĩa Từ
 
     Chính vì vậy, trong nghệ thuật tạo hình từ cổ đại đến nay, hình tượng con ngựa luôn được các nghệ nhân, hoạ sĩ,... thể hiện hết sức đa dạng, sinh động và mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Theo âm lịch, năm cầm tinh con ngựa (năm Ngọ) gồm Giáp Ngọ, Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Ngọ và Nhâm Ngọ được tin là năm của sự may mắn và phát triển.

     Ở Đô thị cổ Hội An, ngoài tranh, tượng, phù điêu cổ xưa mang giá trị sâu sắc về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật,... như tượng Xích Thố, Bạch Thố ở miếu Quan Công, phù điêu trên mái ở hội quán Phước Kiến hay ở án thờ chùa Quan Âm,... còn có nhiều sự kiện quan trọng diễn ra trong năm Ngọ được ghi chép lưu giữ tại di tích hoặc liên quan đến di tích cổ như việc xây dựng, tu bổ di tích. Nhiều hoành phi, liễn đối và đồ vật, tự khí tại di tích cũng được lập, phụng cúng vào năm can chi này.

     Văn bia mộ tổ tộc Trần (lập khoảng năm 1945) ở thôn Võng Nhi, phường Hội An Đông cho biết làng Võng Nhi được lập vào năm Cảnh Thống Mậu Ngọ, tức năm 1498. Đây được xem là làng thành lập rất sớm trên vùng đất Hội An.

 
phuoc lam
Bản rập văn bia Kế hoà thượng thuật ở chùa Phước Lâm
 
     Năm 1822 - tức năm Nhâm Ngọ, đúc đại hồng chung chùa Phước Lâm. Chùa Phước Lâm là một trong những ngôi cổ tự được Sắc tứ ở vùng đất Hội An. Theo văn bia Kế hòa thượng thuật về Hòa thượng Minh Giác đặt tại nhà bia trước sân cho biết, năm Nhâm Ngọ - 1822, Hòa thượng Minh Giác “hội các thầy lại bàn việc đúc chuông đồng lớn phỏng theo tinh thần tượng giáo hiệp với hình Bồ lao[1] để tuyên pháp hưởng vậy, hiệp tứ đại tạo nên hình, theo thiên luân đánh thức mê muội, nổi tiếng vang nơi thanh sạch đẩy thúc thiền cơ, đội ngân hưởng lúc đêm thanh đánh tan trần mộng[2]. Đến nay đại hồng chung vẫn còn nguyên vẹn tại chùa. Cũng theo văn bia Kế hòa thượng thuật, trước đó vào năm Mậu Ngọ - 1798, bổn đạo chùa Di Đà đã mời Ngài về trụ trì chùa và khai đại giới đàn lấy hiệu là Minh Giác hòa thượng. Sau này hòa thượng Minh Giác về trụ trì chùa Phước Lâm - nơi Ngài ở thuở nhỏ và Ngài đã tu bổ ngôi chùa ngày càng khang trang.
 
minh huong
Văn bia Thanh Minh từ Minh Hương
 
     Năm 1894 - năm Giáp Ngọ, tu bổ chùa Chúc Thánh. Chùa Chúc Thánh là tổ đình Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh Hội An, là một trong những cổ tự ở Hội An được Sắc tứ. Ngôi chùa do Thiền sư Minh Hải khai sơn vào khoảng cuối thế kỷ 17, đầu 18, đến nay đã được tu bổ nhiều lần. Theo văn bia trùng tu lập vào năm Duy Tân Ất Mão -  năm 1915 cho biết, “Đến những năm Ất Tỵ đời Thiệu Trị, Kỷ Dậu đời Tự Đức (1845 - 1849) hòa thượng hiệu Quán Thông mấy lần tu bổ, công đức nhiều khôn kể. Năm Nhâm Thìn đời Thành Thái (năm  1892) thầy Trụ trì hiệu Quảng Viên sửa sang lại quy mô, đẹp hơn. Năm Giáp Ngọ Thành Thái (tức năm 1894), thầy chánh tự hiệu Chứng Đạo cùng thầy phó tự Quảng Đạt tu chỉnh lại. Nối tiếp Tân Hợi đời Duy Tân (1911) trụ trì hiệu Phổ Bửu, bổn sư góp nước tám phương làm sông lớn, tụ ngàn tia sáng nên ánh hào quang. Mà rồi, [chùa] mới được cột kèo, thềm mái mở mang, vách bệ, tòa sen nghiêm chỉnh”.[3] Chùa Chúc Thánh hiện lưu giữ nhiều di vật, tượng thờ, bia ký liên quan đến quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Đàng Trong, Việt Nam. Trong 11 bộ liễn đối tại chùa, có 1 bộ liễn được lập vào năm Canh Ngọ - 1930 với nội dung: “Phật xuất Tây phương, pháp diệu túc trung tạng thế giới; Tổ lai Nam quốc, đạo truyền đăng hạ mãn thiền lâm”.[4]

     Năm 1906 - năm Bính Ngọ, xây dựng lại Tín Nghĩa từ của phổ Tín Nghĩa. Ngôi miếu này hiện toạ lạc tại số 05 đường Nguyễn Huệ, phường Hội An hiện nay, hằng năm tế tự cầu an vào mồng 9 tháng Giêng. Sự kiện xây dựng lại ngôi miếu được khắc ghi trên xà cò và 2 tấm bia đá tại miếu. Xà cò tại miếu ghi chữ Hán với nội dung “Thành Thái thập bát niên tuế thứ Bính Ngọ lục nguyệt sơ thập nhật, Kỷ Mão bài Minh Hương xã Tín Nghĩa phổ đồng cung tạo”. Văn bia tại miếu cho biết “Thời đó hưng vượng có thể biết vào năm Ất Hợi[5], Phổ ta phát lòng tín nghĩa tập trung ở nghĩa trủng bày biện cúng tế, mới đầu thì còn sơ sài như vậy, chưa có thể mà mua được nhà cửa thờ thần, mới đầu chỉ có thế. Có đền rồi nhưng chưa thể mở đường, do đó mới phá nền củ chọn nền mới đẹp hơn. Năm trước các tín nam thiện nữ, chọn một ngày hội họp sửa đổi cho nên mới, quyết định phá củ làm mới ở đất đó vậy.(...) Ngôi đền này chọn được ngày tốt từ tháng 5 để khởi công đến tháng 7 công việc hoàn thành, đem việc đầu đuôi ghi chép rõ ràng vào bia đá, lưu lại cho muôn đời”.[6]

     Năm 1918 - năm Mậu Ngọ, hoàn thành việc xây dựng lại Thanh Minh từ của làng Minh Hương. Thanh Minh từ là ngôi miếu được xây dựng từ lâu để thờ cúng âm linh, nằm ở xứ Cửa Suối, làng/xã Thanh Hà xưa. Năm Khải Định thứ 2 (tức năm Đinh Tỵ - 1917) di dời xây dựng ở vị trí mới, hoàn thành vào tháng Giêng năm Mậu Ngọ - 1918. Miếu tọa lạc hướng Cấn Sửu Sơn Khôn Mùi. Văn bia hiện còn tại di tích[7] cho biết: “Mồ hoang chốn sa trường tịch mịch, linh hồn phảng phất năm này qua năm khác, việc điếu tế không đến nơi linh hồn biết dựa vào đâu? Người xưa nói rằng: loài vật biết thương đồng loại, lại nói: dân ta vốn chung nòi giống nên cảm thương nhau. Miếu có thể xây dựng điều nghĩa, tế tự cũng là điều nghĩa, như thế mới gọi là xây dựng điều nghĩa mà tiếng chuông chùa Chúc Thánh, tiếng trống chùa Phước Lâm văng vẳng bên tai chừ! đối diện với Thanh Minh từ Ngũ Bang theo hướng Nam mà dóng lên từng hồi, bên trái rồi bên phải mênh mông, ấy là được cái thế phong thủy tốt vậy”.[8]

     Tại các di tích chùa Vạn Đức, chùa Viên Giác, đình Sơn Phong, đình Sơn Phô, miếu Quan Công, lăng Ông Cẩm Nam,… cũng còn lưu giữ nhiều hoành phi, liễn đối được tạo lập, phụng cúng vào năm Ngọ như bức hoành Trừng Hán Cung, bức Phật Pháp Vương Chương.
 
[1] Một giống thú, hễ gặp cá kình thì chạy rống lớn lên, nên đúc chuông người ta làm hình con Bồ Lao (quai chuông) để chuông kêu lớn tiếng.
[2] Di sản Hán Nôm Hội An, tập 1 - Văn bia, Sở Thông tin - Truyền thông Quảng Nam cấp phép, năm 2014, tr90.
[3] Di sản Hán Nôm Hội An, tập 1 - Văn bia, Sở Thông tin - Truyền thông Quảng Nam cấp phép, năm 2014, tr. 82.
[4] Di sản Hán Nôm Hội An, tập 4 - Hoành phi liễn đối, NXB Đà Nẵng, năm 2018, tr 97.
[5] Có thể là năm 1875.
[6] Di sản Hán Nôm Hội An, tập 1 - Văn bia, Sở Thông tin - Truyền thông Quảng Nam cấp phép, năm 2014, tr.70.
[7] Có 3 tấm bia đá khắc chữ Hán, đều có nội dung là bia hậu ghi lý do việc lập miếu và ghi công đức của những người góp công của xây dựng miếu. Niên đại của bia là năm Khải Định thứ 3.
[8] Di sản Hán Nôm Hội An, tập 1 - Văn bia, Sở Thông tin - Truyền thông Quảng Nam cấp phép, năm 2014, tr. 58.

Tác giả: Võ Hồng Việt

Nguồn tin: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây