Quảng Nam được biết đến là vùng đất trù phú về tài nguyên thiên nhiên với địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành nên các vùng sinh thái đặc trưng gồm vùng núi cao, trung du, đồng bằng, ven biển và vùng hải đảo. Chính sự đa dạng, phong phú của các nguồn tài nguyên thổ sản này đã tạo điều kiện cho hoạt động khai thác, chế biến, và giao thương các nguồn hàng hương liệu, thổ sản ở Quảng Nam trong lịch sử trở nên nhộn nhịp.
Chợ Hội An
Các vùng núi phía Tây và Nam Quảng Nam như Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn, Nam Trà My,… là nơi tập trung nhiều loại sản vật quý như trầm hương, quế, mật ong, dược liệu rừng... Những nguồn tài nguyên này trở thành nguồn hàng quan trọng cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu đi các nước thông qua thương cảng quốc tế Hội An.
Các thư tịch cổ cũng đã ghi nhận sự phong phú của nguồn sản vật tại vùng đất này. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn từng ghi chép: “…xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất thiên hạ. Người Thăng Hoa, Điện Bàn biết dệt vải lụa, vóc đoạn, lĩnh là hoa màu khéo đẹp chẳng kém Quảng Đông, ruộng đồng rộng rãi, lúa gạo tốt đẹp, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng bạc, đồi mồi, trai ốc, bông, sáp, đường mật, dầu sơn, cau, hồ tiêu, cá muối, gỗ lạt đều sản xuất ở đây”. Những ghi chép này cho thấy nguồn thổ sản phong phú từ miền núi Quảng Nam đã sớm trở thành nền tảng cho hoạt động thương mại của vùng.
Từ các vùng núi phía Tây Quảng Nam, nguồn thổ sản phong phú được khai thác chủ yếu bởi cư dân bản địa cùng các nhóm thợ chuyên nghề như đi trầm, khai thác quế, thu hái dược liệu và sản vật rừng... Đây là những nghề có lịch sử lâu đời, gắn liền với tri thức bản địa của cộng đồng cư dân miền núi. Trong đó, nghề đi trầm và khai thác quế không chỉ tạo ra nguồn hàng hóa có giá trị kinh tế cao mà còn hình thành nên những mạng lưới trao đổi hàng hóa giữa miền núi và đồng bằng. Sau khi được thu hoạch, các loại thổ sản như trầm hương, quế, mật ong rừng, dược liệu hay các sản vật khác sẽ được sơ chế tại chỗ rồi vận chuyển dần xuống vùng trung du và đồng bằng. Quá trình vận chuyển này diễn ra thông qua đường bộ và hệ thống đường sông, trước khi tập kết tại thương cảng Hội An, trung tâm thương mại lớn của khu vực trong nhiều thế kỷ.
Trong cấu trúc giao thương đó, các lưu vực sông lớn đóng vai trò đặc biệt quan trọng như những trục giao thông tự nhiên kết nối miền núi với đồng bằng ven biển. Những con sông lớn như Thu Bồn, Vu Gia hay Chiên Đàn không chỉ cung cấp nguồn nước và phù sa cho các vùng cư trú mà còn trở thành những tuyến vận chuyển hàng hóa quan trọng từ thượng nguồn xuống hạ lưu. Để tổ chức quản lý hiệu quả, ở mỗi đầu nguồn các con sông đặt một cơ quan quản lý chuyên trách về thuế. Dưới triều Nguyễn: “Năm Minh Mạng thứ 11 (1830),“chuẩn y lời tâu có 6 nơi đầu nguồn ở hạt ấy về giá thuế năm sau, thời nguồn Thu Bồn, tiền thuế các hạng là 778 quan; nguồn Hữu Bang tiền thuế các hạng 130 quan; nguồn Chiên Đàn tiền thuế 3.000 quan; nguồn Ô Gia tiền thuế các hạng là 450 quan; nguồn Lỗ Đông tiền thuế 202; nguồn Câu Đê 34 quan”.
Khái niệm “nguồn” được nhắc đến trong các tư liệu lịch sử không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn phản ánh những vùng cung cấp sản vật quan trọng của miền núi. Mỗi “nguồn” thường gắn với một hệ thống sông suối và khu vực cư trú cụ thể, nơi diễn ra hoạt động khai thác và thu gom các loại thổ sản. Từ các “nguồn” này, hàng hóa được vận chuyển dọc theo các dòng sông lớn, qua nhiều điểm trung chuyển trước khi đến vùng hạ lưu. Vì vậy, các hệ thống “nguồn” vừa là khu vực sản xuất, vừa là tuyến vận chuyển tự nhiên của mạng lưới thương mại thổ sản.
Bên cạnh vai trò của hệ thống sông ngòi, các chợ và thị tứ ở vùng trung du cũng giữ vị trí quan trọng trong quá trình lưu thông hàng hóa. Đây là những điểm trung chuyển nơi thổ sản từ miền núi được thu gom, trao đổi và phân phối lại trước khi tiếp tục hành trình xuống thương cảng. Những địa điểm như Kim Bồng, Trà Nhiêu hay Phú Chiêm đã hình thành các cộng đồng cư dân buôn bán khá sầm uất, đóng vai trò là cầu nối giữa vùng núi và đô thị thương mại ven biển: “Nhiều thương nhân Hội An còn cư trú rải rác tại nhiều thị trấn, thị tứ khác trong vùng như Kim Bồng, Trà Nhiêu, Phú Chiêm… Những địa điểm này như những vệ tinh trong mạng lưới buôn bán mà hạt nhân là phố cảng Hội An”.
Sự hiện diện của các thương nhân Hội An tại những thị tứ trung du cho thấy hoạt động thương mại không chỉ tập trung ở đô thị thương cảng mà còn lan tỏa ra các vùng phụ cận, tạo nên một mạng lưới giao thương liên hoàn. Thổ sản từ miền núi được thu gom tại các chợ trung gian, sau đó tiếp tục được vận chuyển bằng thuyền dọc theo sông Thu Bồn và các nhánh sông liên quan để đến Hội An. Tại đây, hàng hóa được tập kết, phân loại, sơ chế và bán cho các thương nhân trong nước cũng như thương nhân nước ngoài.
Như vậy, tuyến giao thương thổ sản từ miền núi xuống Hội An không phải là một con đường đơn lẻ mà là một hệ thống vận chuyển và trao đổi hàng hóa nhiều tầng bậc, bao gồm các khu vực khai thác ở miền núi, các điểm trung chuyển ở trung du và trung tâm tập kết tại thương cảng. Hệ thống này phản ánh rõ nét mối liên kết giữa miền núi, trung du và đồng bằng ven biển, đồng thời cho thấy vai trò trung tâm của Hội An trong mạng lưới thương mại khu vực.
Trong hệ thống giao thương giữa miền núi và vùng đồng bằng ven biển Quảng Nam, nhiều loại thổ sản đã dần trở thành hàng hóa chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại của thương cảng Hội An. Những sản vật này không chỉ phản ánh tiềm năng tài nguyên phong phú của vùng rừng núi phía Tây mà còn cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa các vùng sinh thái khác nhau trong cấu trúc kinh tế của khu vực. Trong số đó, quế Trà My được xem là một trong những sản vật tiêu biểu nhất, nổi tiếng từ lâu đời và có giá trị kinh tế cao. Theo các tư liệu được ghi nhận, vùng núi phía Tây Quảng Nam với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đặc thù đã tạo nên môi trường lý tưởng cho sự sinh trưởng của cây quế: “Vùng rừng nguyên sinh ở miền Tây… nay là huyện Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn… rất phù hợp với sự sinh trưởng của cây quế… Người xưa quý quế như bảo vật và quế vùng Trà My là loại tốt nhất”.

Người dân ở xã Tiên Phước khai thác quế
Nhận định này cho thấy quế không chỉ là một sản vật tự nhiên mà còn được xem như một loại “bảo vật” của vùng đất Quảng Nam trong nhận thức của người xưa. Quế Trà My nổi tiếng nhờ hàm lượng tinh dầu cao, hương thơm mạnh và chất lượng vượt trội so với nhiều vùng trồng quế khác. Chính vì vậy, từ rất sớm quế đã trở thành một loại hàng hóa có giá trị, được thu gom từ vùng núi và đưa xuống đồng bằng để trao đổi, buôn bán. Trong bối cảnh thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ ở Đàng Trong từ thế kỷ XVII, quế Trà My nhanh chóng trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng thông qua thương cảng Hội An: “Dưới thời các chúa Nguyễn, hàng năm cảng thị Hội An đã bán cho người nước ngoài 2.000 tấn quế các loại”.
Bên cạnh quế, nhiều loại thổ sản khác cũng tham gia vào mạng lưới giao thương này, góp phần làm phong phú thêm cơ cấu loại hình hàng hóa của thương cảng. Các sản vật như cau, chè, đường, dược liệu, trầm hương được khai thác từ nhiều vùng khác nhau của Quảng Nam và các khu vực lân cận, sau đó tập kết tại Hội An để trao đổi buôn bán. Những mặt hàng này không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn trở thành nguồn hàng xuất khẩu có giá trị trong thương mại khu vực.
Đến đầu thế kỷ XX cảnh buôn bán ở Hội An vẫn còn diễn ra nhộn nhịp qua ghi chép của nhà nghiên cứu Nguyễn Bội Liên: “Bờ sông xây đá, bực sâu từ bến chợ lên, ghe thường kèm sát bờ. Đò mui ống (đò Hàn) đi Vĩnh Điện, Đà Nẵng, Chợ Được, Bến Đá (Thăng Bình), Tam Kỳ đâu dày bờ. Buổi chiều chừng 4, 5 giờ người lên xuống nhộn nhịp. Hành khách, kẻ gánh gồng, người mang gói, đàn ông, đàn bà, con đò tranh nhau rước khách lên xuống lăng xăng kêu la nhau chí choé. Từ ngã ba chùa Bà đến góc Lợi Xuyên (quai Hải Nam) thì ghe nguồn đều là ghe trường, từ nguồn (Đại Lộc, Trung Phước…) xuống đậu sát bờ bán chuối, mây, dầu rái, trầu và một số ghe vợi. Ghe vợi này chở hàng như cau, quế, chè, đường… đi Hàn (Đà Nẵng) cho các hiệu xuất cảng hoặc chở thẳng ra tàu đậu ở Vũng Thùng. Từ góc Lợi Xuyên lên thì các ghe chở hàng từ Tam Kỳ ra và nốt mành từ các tỉnh Thanh, Nghệ vào và thỉnh thoảng có tàu ô Hải Nam vào đậu lấy hàng. Giữa lòng lạch thì ghe bầu đậu dày, neo tréo nhau, cột buồm dày như những ngọn dáo chĩa lên trời. Những ghe này ngoài các miền trong tỉnh như Trà Nhiêu, Bàn Thạch, Làng Câu, Cẩm Phô, Thanh Châu, Phước Trạch còn có ghe các tỉnh trong Bình Định, Phú Yên, Phan Thiết… đến bán gạo, muối và mua hàng quay về”.
Nhờ vị trí địa lý thuận lợi và sự phát triển của thương mại quốc tế, Hội An đã trở thành trung tâm hội tụ hàng hóa từ nhiều vùng miền. Từ đây, các loại hương liệu và thổ sản được bán cho thương nhân nước ngoài và phân phối đến nhiều thị trường khác nhau. Như vậy, tuyến giao thương từ miền núi xuống Hội An không chỉ phục vụ nhu cầu nội địa mà còn gắn chặt với mạng lưới thương mại quốc tế của Đàng Trong trong các thế kỷ XVII - XVIII và các giai đoạn sau này.
Có thể thấy rằng, tuyến giao thương thổ sản từ miền núi xuống Hội An được hình thành từ sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và nhu cầu thương mại quốc tế. Các vùng núi phía Tây Quảng Nam cung cấp nguồn thổ sản phong phú, trong khi hệ thống sông ngòi và mạng lưới chợ trung du đóng vai trò trung chuyển hàng hóa. Hội An với tư cách là thương cảng quốc tế đã trở thành điểm hội tụ và xuất khẩu các sản vật này ra thế giới. Quá trình này không chỉ phản ánh mối liên kết kinh tế giữa miền núi và đồng bằng, mà còn cho thấy vai trò trung tâm của Hội An trong mạng lưới thương mại khu vực Đông Nam Á thời cận đại.
Lê Quý Đôn (2017), Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học xã hội, tr.234.
Nội các triều Nguyễn (bản dịch 2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập III, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr.321.
Trần Ánh, “Hương liệu, thổ sản những loại hàng chiến lược của cảng thị Hội An trong lịch sử”, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2024), Hương liệu, thổ sản Hội An, Quảng Nam, Nxb. Đà Nẵng, tr.59.
Nguyễn Văn Kim “Các nguồn hàng và thương phẩm của Đàng Trong”, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2024), Hương liệu, thổ sản Hội An, Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, tr.38.
Nguyễn Văn Kim, bài viết đã dẫn, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2024), Hương liệu, thổ sản Hội An, Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, tr.38
Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hoá Hội An (2017), Di cảo Châu Ái Nguyễn Bội Liên, Nxb. Đà Nẵng, tr.60-61.