Khi tham quan, chiêm bái Tổ đình Chúc Thánh (số 104 Tôn Đức Thắng), bên cạnh những kiến trúc chính như tam quan cũ, chính điện, nhà Tổ, Đông đường, Tây đường, khách thưởng lãm còn ấn tượng mạnh bởi các ngôi tháp mộ cổ, là nơi lưu giữ linh cốt của các vị cao tăng trong môn phái.
Các tháp đều được thiết trí ở khu vực hai bên phía trước chính điện. Bên trái (nhìn từ ngoài vào) có tháp Tổ sư Minh Hải (7 tầng), tháp Hòa thượng Thiện Quả (5 tầng) và tháp Hòa thượng Trí Nhãn (3 tầng). Bên phải cũng có một dãy tháp mộ cổ xây liền kề thành một cụm, cùng hướng với ngôi chùa (hướng của chính điện), là hướng tây nam. Trong cụm này có tháp Đại sư Phổ Bảo (1865 – 1914) pháp danh Ấn Bính, tự Tổ Thuận, hiệu Phổ Bảo, được tạo lập năm 1914, chưa từng trùng tu, đặc biệt có bài văn bia ca ngợi đạo hạnh của đại sư Phổ Bảo, một vị trụ trì chùa Chúc Thánh. Do những đặc trưng về kiến trúc lẫn di văn nên bài viết sẽ đi sâu khảo sát kiến trúc ngôi tháp cũng như công bố bản dịch hai tấm bia tháp.
1. Kiến trúc ngôi tháp
Tổng thể ngôi tháp mộ gồm có các hạng mục: bình phong tiền, khoảnh sân nhỏ và lối vào ở phía trước, tháp mộ, tường bao và bình phong hậu, kích thước dài 8,9m, rộng 4,65m. Ngôi tháp mộ có quy mô vừa phải, thể hiện tinh thần của những người theo đạo Phật là tính khiêm cung, bình dị. Các hạng mục kiến trúc được xây đăng đối qua trục chính giữa, tạo sự tôn nghiêm.

Tháp mộ Đại sư Phổ Bảo - Ảnh: Hoàng Phúc
- Bình phong tiền nằm ở phần sân trước mộ, xây thấp, được tạo hình độc đáo với đỉnh hương ở vị trí trung tâm, hai bên là hai bình hoa (hình bát giác). Đỉnh hương được đúc bằng vữa, bề mặt ngoài được cẩn các mảnh sành sứ trắng men lam; hai bình hoa được đúc bằng vữa.
- Tường thành: bao bọc khuôn viên tháp mộ, tạo mặt bằng hình bát giác không đều cạnh. Nền mộ cao hơn nền sân trước. Chính giữa, phía trước là bốn trụ biểu có tiết diện vuông, khoảng giữa hai trụ phía trước không xây nhằm tạo lối vào viếng mộ. Đỉnh trụ biểu phía trước gắn búp sen trang trí, thân trụ ốp khuôn bông gốm đất nung. Liên kết các trụ biểu ở mỗi bên là tường xây, thân tường gắn khuôn bông bằng gốm men xanh ngọc. Tường biên xây thấp, được chia làm ba đoạn. Tường thành phía sau xây cao, tạo bình phong hậu hình cuốn thư, hình thức cũng khá đơn giản. Mảng chính giữa bình phong gắn bi ký, tường hai bên đắp thủng đồ án quả phật thủ, mặt trên tường (góc giao với cuốn thư) đắp nổi cuộn mây. Mảng tường này kết thúc bằng trụ biểu tiết diện tròn, đầu trụ đắp vữa xoắn trôn ốc.
- Tháp mộ: 2 tầng, hình lục giác, nằm ở vị trí trung tâm khuôn viên, khoảng giữa lối vào và bình phong hậu. Tháp xây bằng gạch(?), tô trát vữa, quét vôi màu, đắp nổi nhiều đồ án trang trí, giàu giá trị nghệ thuật. Tháp được xây cao nhất trong các hạng mục, tỉ lệ hài hòa, cân đối, trang trí đặc sắc, trở thành kiến trúc trung tâm của ngôi mộ. Tháp có cao độ vừa phải, nổi bật mà không phá vỡ tổng thể cảnh quan khuôn viên chùa, màu sắc thanh nhã. Về cấu tạo tháp mộ, có thể chia thành 3 phần: đế, thân và mái.
+ Đế tháp: xây thấp, được tạo dáng chân quỳ, rộng hơn phần thân tháp, tạo cảm giác vững chãi. Mặt trước có bệ đỡ bia xây bằng vữa, được tạo dáng kiểu chân quỳ, mặt trước có phiến cẩm thạch chạm đồ án “lưỡng sư hí tiền”.
+ Thân tháp: bia mộ được gắn ở mặt tiền tầng 1, hơi hõm sâu so với mặt tường, trang trí mặt tháp này rất được chú trọng. Hai bên bia mộ đắp nổi hình cuốn thư, trên đầu bia đắp nổi đồ án dơi. Các mặt còn lại của tầng 1 được trang trí ít cầu kỳ hơn so với mặt tiền, tạo ô hộc hình chữ nhật gồm các đường gờ chỉ song song, đắp nổi các vật trong bát bửu ở bốn góc.
Phần thân tầng 2 thuôn nhỏ, thấp hơn tầng 1 để tạo tỉ lệ cân xứng, trang trí tương tự phần thân tầng 1 cho tất cả các mặt. Trang trí trong mảng ô hộc là hồi văn gãy khúc, chính giữa có họa tiết trang trí hình tròn (có thể bằng thủ pháp cẩn mảnh) bị bong mờ, không nhận diện được đồ án. Dưới phần thân tầng 2 có một đoạn gờ xây thấp, rộng hơn phần thân một chút, tạo hiệu ứng thị giác như phần đế ở tầng 1.
Hai tầng được phân chia bởi mái nhỏ. Phần mái này được vát cong, uốn lượn rất nhẹ, đắp vữa giả ngói ống. Bờ chảy ở các góc giao mái cũng được làm uốn cong mềm mại, đuôi bờ chảy trang trí cuộn mây.
+ Mái tháp: Đỉnh mái gắn búp sen 6 cánh (tương ứng với số cạnh tháp). Dưới búp sen là mái cách điệu hình lá sen úp, rìa lá là đường gờ cong lượn. Bờ chảy các góc giao trang trí cuộn mây.
2. Văn bia tại ngôi tháp mộ:
Tháp đại sư Phổ Bảo có hai văn bia, được gắn trên thân tháp và một bia kích thước lớn gắn vào bức bình phong hậu. Tấm bia gắn vào thân tháp gọi là bia tháp chí, còn gọi là tháp mộ chí, khắc thông tin về đại sư an táng dưới lòng tháp. Bia được chế tác bằng cẩm thạch màu trắng xám, hình chữ nhật có vát hai góc ở bên trên, kích thước: cao 77,5cm, rộng 46cm. Diềm bia rộng 9,5cm, gồm 2 lớp. Lớp ngoài trang trí “lưỡng long chầu nhật” ở trán bia; diềm hai bên và diềm dưới trang trí đồ án dây lá hóa rồng. Lớp trong là dải hồi văn biến thể chữ T. Lòng bia có 4 hàng chữ chữ Hán. Hàng giữa khắc chữ Hán to, khỏe, phía trên để hai chữ “Lâm Tế”. Bên trái hạ thấp khắc 2 hàng chữ Hán nhỏ, chính là niên đại, giờ ngày tháng năm sinh và giờ ngày tháng năm viên tịch. Bên phải hạ khoản khắc hàng chữ Hán nhỏ “Hiếu đồ bản đạo đẳng đồng lập”. Chữ khắc trên bia được kẻ sơn đỏ.

Bình phong hậu tháp mộ Đại sư Phổ Bảo - Ảnh: Hoàng Phúc
Dịch nghĩa bia tháp chí:
Tháp của đại sư họ Đinh, húy Ấn Bính, hiệu Phổ Bảo [giữ chức] trụ trì, Lâm Tế chính tôn đời thứ 39.
Sinh giờ Tý ngày mồng 8 tháng 12 năm Ất Sửu (1865)
Viên tịch giờ Ngọ ngày 11 tháng 2 năm Giáp Dần (1914).
Tất cả hiếu đồ và bổn đạo cùng lập.
Ngoài bia tháp chí, tại ngôi tháp còn có bi văn, được gắn ở mảng chính giữa bình phong hậu. Bia làm bằng cẩm thạch màu trắng xám, hình chữ nhật, kích thước: cao 108cm, rộng 80cm, không có diềm, không có chi tiết trang trí. Lòng bia có 18 hàng, mỗi hàng có 30 chữ, hàng chữ viết “đài” thì 31 chữ, chữ khắc theo lối chữ Khải, chân phương, nét chữ sắc xảo, rõ đẹp và đủ nét. Bia không có tiêu đề, chúng tôi tạm gọi là Phổ Bảo đại sư tháp bi minh. Bia được lập tháng 2 năm Giáp Dần, Duy Tân thứ 8 (1914).
Tác giả bài văn bia là vị tú tài Hồ Thăng Doanh pháp danh Chơn Cẩn. Đây là vị có quan hệ thân hữu với chư tăng tại Ngũ Hành Sơn, từng tham gia soạn bia cho chùa Từ Vân, Đà Nẵng; bia về thiền sư Từ Trí tại chùa Linh Ứng, nhất là tham gia biên soạn tập Ngũ Hành Sơn lục. Tuy đỗ tú tài, nhưng Hồ Thăng Doanh là một vị túc Nho, là người viết chữ cho bản in Đại thừa kim cương bát nhã tiêu thích do chùa Thạch Sơn, Quảng Ngãi tổ chức san khắc năm Kỷ Dậu, Duy Tân thứ 3. Hiện chưa rõ hành trạng của soạn giả bài văn bia.
Xin giới thiệu bản dịch nghĩa bi văn:
Xưa đến như vậy, nay đi như vậy, toàn hình hài và toàn thần thức cũng lấy sự vĩnh cửu làm yên vui. Nhớ xưa: Ngài trụ trì chùa Chúc Thánh họ Đinh, Mỹ Khê trăng sáng soi lòng thiền, Long Phước sinh ra giữ tính thiêng. Ngài sinh năm Ất Sửu (1865) niên hiệu Tự Đức, 15 tuổi thân xa nhà lửa[6], dấu tung tích sa môn. Vào tiết Trung nguyên năm Kỷ Mão (1879), ngài xin xuất gia tại chùa Tam Thai[7], Hòa thượng Mật Hạnh[8] khẩu truyền diệu nghĩa mà lấy tình thầy trò dạy bảo. Năm ngài mới 20 tuổi, đã có thể lĩnh hội ý chỉ của Thiền tông. Năm Giáp thân (1884) niên hiệu Kiến Phước, ngài được xuống tóc, ban Pháp tự, biết mình là đệ tử của sư, nối tiếp tổ đình, ghi chép việc tốt, yêu mến chúng tăng, ngẫm lại tên ngài mà nghĩ đến con người thật của ngài, vốn rất xứng hợp. Năm Kỷ Sửu (1889) niên hiệu Thành Thái, Hòa thượng Qui Trú[9] chùa Thiên Tôn, Phú Yên[10] khai giới đàn, Ngài thọ tam đàn cụ túc giới, chùa báu đã có ngài tiếp đèn, Phật thừa ngài đã được thụ ký. Năm Quí Tị (1893) [thuộc niên hiệu Thành Thái] thứ 5, Ngài được Hòa thượng Vĩnh Gia[11] chùa Phước Lâm[12] phó pháp, ban Pháp hiệu là Phổ Bảo đại sư, người biết tương lai ngài sẽ phổ tế quần sinh, tạo lập Phật sở quí báo vậy. Năm Tân Sửu (1901) [thuộc niên hiệu Thành Thái] thứ 13, Ngài được chư sơn cung cử chức vị trụ trì chùa Chúc Thánh, được vị quan Đại Thần thuộc tỉnh đốc bộ đường là vị đại nhân họ Tôn Thất đồng ý trao cho tờ giấy làm vật chứng, có phước quả trong vương quyền lại được ấn chứng trong nhà thiền, chùa cũ thì xây mới, việc thiên lệch thì chỉnh lí cho ngay thẳng. Tự vũ trang nghiêm, khám sáng sắc hoa sen; Kỳ Viên tráng lệ, cửa thiền rõ ánh tường vàng. Năm Tân Hợi (1911) thuộc niên hiệu Duy Tân thứ 5, lại trùng tu khang trang, nên quán sát như vậy, tự đắn đo suy nghĩ.
Năm mươi tuổi đời, lợi danh lòng đã nguội; có thể rủ bỏ hết cả bụi trần. Vị Bí sô mấy độ từng hiểu rõ hương vị cuộc đời; song vẫn về thôi, hãy về đi thôi.
Ngài thị tịch vào giờ chính ngọ ngày 11 tháng 2 năm đó[13], Đức Phật buông tay vàng phóng hào quang tiếp dẫn, miệng niệm Lục Như[14], ngài tham thiền mà viên tịch. Chư sơn thạc đức sửa soạn cho, bản đạo thập phương giúp đỡ cho. Vào trai tuần thứ hai, giờ thân, ngày 25 tháp xây phía phải của tháp tổ đệ nhị[15] ở phía tây vườn chùa, chắc ngài đến thì lấy Phật Tổ y cứ, đi cũng lấy Phật Tổ trở về. Ngài sẽ mỉm cười nơi tháp mộ. Hiếu đồ khóc mà cầu lời tự thuật ở ta, bèn ghi chép lại những điều đã thấy, đã nghe, vụng về thu thập ngôn từ thô tục cùng viết trên đá, làm bài tự vậy.
Duy Tân thứ 8, năm Giáp Dần (1914), qua ngày rằm tháng 2.
Bạn tăng ở Hành Sơn là tú tài Hồ Thăng Doanh, pháp danh Chơn Cẩn vụng về làm bài tự cùng viết chữ [khắc] trên đá.
Toàn thể hiếu đồ cùng bổn đạo khóc phụng lập.
3. Tiểu kết:
Từ những khảo sát trên, có thể thấy tháp Đại sư Phổ Bảo không chỉ là nơi an trí xá lợi của một vị cao tăng mà còn là một dấu tích tiêu biểu phản ánh diện mạo kiến trúc tháp mộ Phật giáo ở Hội An vào đầu thế kỷ XX. Cuộc đời và hành trạng của Đại sư Phổ Bảo – từ quá trình tu học, hoằng pháp đến vai trò trụ trì chùa Chúc Thánh – đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong sự phát triển của dòng thiền Lâm Tế tại địa phương, góp phần củng cố đời sống tín ngưỡng và Phật sự của cộng đồng. Hành trạng của Đại sư được ghi lại súc tích qua nội dung bi văn, phản ánh rõ nét nhân cách, đạo hạnh và bối cảnh lịch sử đương thời. Ngôi tháp có kiểu dáng thanh thoát, đăng đối, là một kiến trúc hài hòa. Sự kết hợp giữa kiến trúc và di văn đã tạo nên một công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật. Do đó, việc bảo tồn và nghiên cứu tháp Đại sư Phổ Bảo không chỉ nhằm gìn giữ một công trình kiến trúc cổ, mà còn góp phần làm sáng tỏ thêm diện mạo di sản Phật giáo tại Hội An.
Do nằm ngay trong khuôn viên chùa Chúc Thánh nên tháp Đại sư Phổ Bảo nói riêng, các ngôi tháp mộ nói chung được quan tâm chăm sóc, hương khói thường xuyên, khung cảnh thâm nghiêm, yên ắng nhưng không hề hiu quạnh, u ám. Đây là nơi các tăng ni, Phật tử có thể đến chiêm bái, tri ân tiền nhân và lắng lòng, chiêm nghiệm về những giá trị cốt lõi của đạo Phật.
Tài liệu trích dẫn:
Tháp Tổ Minh Hải được trùng tạo lại vào năm 1991, 7 tầng, cao khoảng 15m.
Mô típ bình phong này còn được tìm thấy tương tự tại đình Cẩm Phô và Văn chỉ Minh Hương thuộc phường Hội An.
Mẫu khuôn bông gốm này được tìm thấy ở các ngôi mộ táng mang ảnh hưởng kiến trúc Pháp trên địa bàn phường Hội An Tây, niên đại tạo lập nửa đầu thế kỳ XX; hiếm thấy sử dụng ở các loại hình di tích tín ngưỡng khác ở Hội An.
Số tầng tháp mộ ở các địa phương khác được xây dựng đa phần theo số lẻ, tuy nhiên, ở Hội An, nhiều tháp mộ được xây 2 tầng. Cần có các nghiên cứu chuyên sâu để có thể lý giải được điều này.
Chúng tôi sử dụng bản ảnh từ sách lưu tại chùa Viên Giác, Huế.
Nhà lửa: nguyên văn là Hỏa trạch, dẫn từ câu “Tam giới vô an do như hỏa trạch” trong Pháp Hoa kinh.
Chùa Tam Thai三台寺: chùa nằm trên ngọn Thủy Sơn thuộc Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), chưa rõ chùa được lập khi nào. Thời chúa Nguyễn, chùa do hòa thượng Hưng Liên Quả Hoằng, phái Tào Động trụ trì. Dưới triều Minh Mạng, nhà vua cấp tiền tu bổ được xếp vào chùa công, tức ban biển “ngự chế” mà dân gian gọi là quốc tự. Năm Minh Mạng thứ 7, Hòa thượng Tiên Thường Viên Trừng được bổ nhậm trụ trì và đến các bậc cao tăng như Hòa thượng Hoằng Ân, Hòa thượng Huệ Quang, Hòa thượng Mật Hạnh, Hòa thượng Chí Thành, Hòa thượng Từ Trí, Hòa thượng Từ Nhẫn, Hòa thượng Phước Thông, Hòa thượng Phước Trí, Hòa thượng Thiện Trung, Hòa thượng Huệ Tràng, Hòa thượng Trí Giác. Hiện nay, chùa do Hòa thượng Hạnh Mãn trụ trì.
Hòa thượng Mật Hạnh (1822-1884): “Họ Hồ hiệu Mật Hạnh, người châu Hà Mật huyện Diên Phước tỉnh Quảng Nam, sinh năm Nhâm Ngọ Minh Mệnh 3 (1822). Xuất gia thẳng vào chùa Phước Lâm thủ lễ tôn sư Quán Thông hòa thượng dạy truyền cho kinh luật, tu hành phó pháp hiệu Mật Hạnh đại sư. Năm Tự Đức 15, sung trụ trì chùa Ứng Chân được 12 năm. Năm [Tự Đức] 26, cải bổ trụ trì chùa Tam Thai, có nhiều tấm lòng đối với Phật Pháp, tô tượng đúc chuông (chuông đồng báo chúng) sửa sang cửa chùa, qui mô chỉnh túc, ngọ trung nhất thực, việc chùa đầy đủ lại được 11 năm cộng thành 23 năm. Giờ Dần ngày mồng 4 tháng 4 năm Giáp Thân, Kiến Phúc nguyên niên viên tịch. Trước tạo tháp ở khoảng hai núi Thủy Sơn, Mộc sơn, thọ thế 63 tuổi. Dạy bảo tăng đồ đắc đạo như nay có tăng cang hiệu Từ Trí đại sư, trụ trì hiệu Từ Nhẫn đại sư, chúc Thánh tự trụ trì Phổ Bảo đại sư đều có nhiều công hạnh vậy”. (Theo Ngũ Hành Sơn lục, tờ 25)
Hòa thượng Qui Trụ (1829-1907): danh tăng triều Nguyễn, ngài khai sơn chùa Thiên Tôn, trụ trì chùa Long Sơn (Cây Giá- Phú Yên). Ngài thuộc đời pháp thứ 39 thiền phái Lâm Tế Liễu Quán, húy Tánh Thường. Ngài được mời chứng minh khắc bản sách Đại Học chi thư yếu tập vào năm Ất Mùi (1895). Năm Kỷ Sửu (1889) ngài khai giới đàn chùa Thiên Tôn. (Dựa vào long vị thờ tại chùa Thiên Thai, chính pháp nhãn tạng chùa Long Quang, Sông Cầu, sách Đại Học chi thư, Chùa Viên Thông tàng bản)
Chùa Thiên Tôn: chùa tọa lạc bên núi Hòn Ngang thôn Phú Thịnh xã An Thạch, Tuy An (Phú Yên trước đây). Chùa do hòa thượng Tánh Thường Qui Trụ khai sơn, kế thế có những bậc danh tăng như Hải Tuệ Trí Giác, Thanh An Nguyên Phước, Trừng Đăng Từ Pháp, Tâm Bổn Trí Nghiêm… Hòa thượng Trí Nghiêm dịch đại Bát Nhã vốn trụ trì chùa Thiên Tôn, ngài là bậc cao tăng đương đại, đóng góp khá nhiều cho Phật Giáo Khánh Hòa. (Dựa theo Nguyễn Đình Chúc, Lược sử chùa Chư Tôn Phú Yên trong và ngoài tỉnh, Nxb Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2015, tr. 137-138)
Hòa Thượng Vĩnh Gia (1840-1918): thuộc thiền phái Lâm tế đời 39, húy Ấn Bổn, tự Tổ Nguyên, hiệu Vĩnh Gia. Ngài quê xã An Hiệp, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay xã Thăng Phú, Đà Nẵng). Hòa thượng xuất gia với tổ Quán Thông, chùa Phước Lâm. Sau làm đệ tử ngài Huệ Quang, chùa Tam Thai. Năm 1863, ngài thọ giới tỳ kheo tại tổ đình Phước lâm do bổn sư làm đàn đầu hòa thượng. Năm 1884, bộ lễ bổ nhiệm trụ trì chùa Linh Ứng. Năm 1887, về trụ trì chùa Phước Lâm. Năm 1909, ngài trùng tu tổ đình Phước Lâm. Năm sau, lập giới đàn tại chùa do ngài làm đàn đầu hòa thượng. Ngài viên tịch giờ Tuất, ngày 20 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), thọ 79 tuổi. Tháp được môn đồ kiến lập bên phải trước chùa, có dựng cả bia văn ghi chép hành trạng ngài. Ngài có nhiều đệ tử nổi tiếng như Phó tự Phổ Hóa, trụ trì Phổ Minh, Phổ Truyền, Phổ Trí, Phổ Bảo, Phổ Thoại… (Dựa theo bia tháp tổ Vĩnh Gia chùa Phước Lâm, Hội An).
Chùa Phước Lâm: tọa lạc phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng. Chùa do thiền sư Ân Triêm khai sơn giữa thế kỷ XVIII. Chùa được tôn tạo, trùng tu nhiều lần, với các bậc cao tăng như ngài Quảng Độ, Minh Giác, Quán Thông, Vĩnh Gia, Phổ Minh, Phổ Trí, Đương Như, Như Vạn, Trí Giác. Chùa là Tổ đình của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, là nơi đào tạo khá nhiều danh tăng như tổ Pháp Chuyên (chùa Từ Quang), Bảo Tạng (chùa Thắng Quang), Bảo Ấn (chùa Thiên Ấn), Phổ Huệ (chùa Phổ Bảo), Phổ Truyền (chùa Văn Thánh)…
Nghĩa cùng năm với lập bia dựng tháp, tức năm Duy Tân Giáp Dần (1914).
Lục như: Theo Kinh Kim Cang là “như mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ và điện” nghĩa như giấc mơ, huyễn hóa, bọt nước, bóng hình, sương, chớp. Đó là những hiện tượng vô thường, mau chóng tan biến. Trong bia, chỉ ngài đã hiểu lý vô thường nên tham thiền mà viên tịch.
Bia đề “Nhị tổ tháp” tức tháp tổ đời thứ 2. Về thế thứ trụ trì, ngài Thiệt Diệu Chánh Hiền kế nhiệm trụ trì tổ đình. Ở đây được hiểu là các ngài ở chữ “Thiệt” thuộc đời pháp thứ 2 của kệ phái, đều tôn xưng là nhị tổ. Tại tổ đình Chúc Thánh có hai mộ tháp ngài Thiệt Diệu Chánh Hiền và Thiệt Thọ Chánh Khóa. Long vị thờ tại tổ đình có thêm ngài Thiệt Mẫn Chánh Dung. Ba ngài này không có pháp hiệu, tức không được ban phú bản. Bia và tháp ngài do con cháu phụng lập, tức không có môn đồ, ngài này chắc bán thế đầu thiền. Mới đây, trụ trì chùa Chúc Thánh đã dời tháp ngài Chánh Hiền sau nhà đông đưa về phía phải trước chùa, nằm cùng hàng với tháp ngài Phổ Bảo. Ở đây hiểu là tháp ngài Phổ Bảo nằm về phía phải của tháp ngài Thiệt Thọ.
Nguyên văn là cửu kinh: Thời xuân thu là mộ của Đại phu nước Tấn. Sau này dần dần thay đổi, chỉ ngôi mộ bình thường. Ở đây chỉ tháp mộ.