Cũng như ở mọi miền đất nước ta, bến nước là một thành tố thiết yếu gắn với các dòng sông, con suối của xứ Quảng từ miền ngược cho đến miền xuôi. Ở miền xuôi bến nước là nơi để người dân các thôn xóm ra sông tắm rửa, giặt giũ hàng ngày, nơi xuất bến ghe thuyền để hành nghề sông nước, buôn bán, đưa đò… Trước đây khi chưa có hệ thống giếng ao cung cấp nước ngọt thì các bến sông còn là nơi cư dân ra lấy nước dùng cho sinh hoạt, cúng kính. Người dân chèo ghe ra giữa sông để lấy nước ngọt trong sạch dùng trong các lễ cúng tổ tiên, thần linh. Ở miền ngược, bến nước, máng nước là nơi cung cấp nước ngọt cho canh tác, sinh hoạt và cúng kính của các cộng đồng dân tộc ít người tại các bản làng. Bến nước do vậy là mạch sống mà thiếu nó các cộng đồng dân cư không thể tụ cư lập làng xóm, buôn bán để sinh sống. Bến nước không chỉ là biểu tượng của quê hương “cây đa, bến nước, sân đình” mà là biểu hiện cụ thể một đặc ân mà tạo hóa đã ban cho con người để duy trì sự sinh tồn, phát triển của các cộng đồng dân xư từ người Việt vùng trung du, đồng bằng châu thổ, biển đảo cho đến đồng bào dân tộc vùng cao. Bến nước vì vậy được cư dân mọi miền coi trọng và linh thiêng hóa bằng nhiều hình thức, đặc biệt là lễ cúng bến nước đầu xuân hàng năm.

Phường Hội An, khu vực Cẩm Kim nhìn từ trên cao - Ảnh: Quang Ngọc
Gọi là cúng bến đầu xuân nhưng công việc chuẩn bị diễn ra sớm hơn. Nhiều địa phương ở miền xuôi việc chuẩn bị cúng bến thực hiện vào những ngày cuối tháng Chạp âm lịch. Ở vùng cao, nhiều cộng đồng dân cư chuẩn bị lễ cúng bến nước, máng nước ngay từ những ngày sau đêm trăng sáng tháng cuối năm. Quy mô cúng tế mỗi địa phương một khác nhưng nhìn chung đồng bào vùng cao vẫn còn giữ được những tập tục lâu đời gắn với niềm tin siêu nhiên về nguồn nước và tổ chức lễ cúng này quy mô, huy động mọi người trong cộng đồng tham gia.
Ở miền xuôi, khi những cơn mưa phùn cuối năm bắt đầu tạnh, ánh nắng mặt trời ấm áp hửng lên khắp nơi thì cũng là lúc mọi người trong thôn xóm bắt tay vào dọn dẹp nhà cửa, phát quang cây cối, dãy cỏ, gia cố đường sá. Trong những công việc đó thì việc dọn vệ sinh, phát quang, bồi đắp bến nước của xóm ấp cũng là một việc không thể bỏ qua. Lực lượng tham gia là trai tráng các nhà ở gần bến nước dưới sự hướng dẫn của một vài cụ già cao tuổi.
Đến ngày cuối năm âm lịch, 30 hay 29 tháng Chạp nếu là tháng thiếu, các xóm thôn tổ chức lễ cúng tất niên bến. Một chiếc bàn vuông hoặc tròn, mặt phủ khăn, trên bày lễ vật được đặt bên bờ nhìn ra bến sông. Những địa phương có điều kiện thì bài trí ba bàn, một bàn cúng các vị thần sông nước, thổ địa ở chính giữa, hai bên cúng tả hữu ban. Lễ vật gồm hương đèn, hoa quả, chè xôi, trầu cau, rượu. Nhiều chỗ khá giả, còn có thêm 1 tợ thịt heo luộc hoặc 1 con gà trống tơ luộc. Đứng cúng là các cụ lớn tuổi trong xóm ấp, bận áo dài khăn đóng. Cúng tất niên xong thì mọi hoạt động liên quan đến bến nước phải tạm thời dừng nghỉ cho đến khi làm lễ mở bến đầu năm, thường tổ chức vào sáng ngày mồng ba Tết. Người dân quan niệm rằng đây là khoảng thời gian phải giữ yên tĩnh, không ai được thực hiện các việc làm xao động bến nước, ảnh hưởng đến các vị thần sông nước ăn Tết.
Trước đây, lễ cúng tất niên bến hoặc cúng bến cuối năm là một lễ tục phổ biến của nhiều cộng đồng dân cư từ miền ngược đến miền xuôi ở xứ Quảng, nhất là ở những nơi có bến sông để hoạt động buôn bán, hoạt động đánh bắt thuỷ hải sản hoặc bến đò đưa khách qua lại. Ngay cả tại những bãi biển tập trung ghe thuyền hoặc những bãi tắm người ta cũng tổ chức cúng tất niên bến bãi để tạ ơn các vị thần biển trong một năm làm ăn, hoạt động và cư dân tại đây cũng ngưng ra biển hành nghề, tắm biển ngắn thì một ngày, dài thì 3 ngày đầu năm.
Vào dịp đầu năm mới nhiều địa phương của xứ Quảng từ đầu nguồn Trà Linh cho đến Cửa Đại cư dân còn tổ chức những hoạt động nghi lễ liên quan đến bến nước. Ở một số xã phường thuộc thành phố Hội An trước đây, nay là các phường Hội An Đông, Hội An Tây, Hội An, thành phố Đà Nẵng như Cẩm Hà, Minh An, Cẩm Kim, Cẩm Thanh… người dân ở đây có lệ đua ghe đảo thuỷ đầu năm. “Đảo thuỷ” có nghĩa là cầu nước - cội nguồn của sự sống cũng là cội nguồn sinh kế của cộng đồng dân cư. Cầu nước cũng có nghĩa là cầu cho nguồn nước dồi dào để việc làm ăn được thuận lợi, tài lộc vô như nước. Tục đua ghe cầu phúc đầu năm cũng được tổ chức tại bến Trà Linh nơi có miếu Bà Chúa Ngọc vào những ngày đầu năm mới. Tại chợ Được thuộc xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, Quảng Nam nay là xã Thăng An thành phố Đà Nẵng, dân chúng quanh chợ tổ chức rước cộ Bà có đua ghe cầu mưa thuận gió hòa, buôn bán thuận lợi trong năm mới tại bến sông trước chợ vào ngày 11 tháng Giêng hàng năm.
Có lẽ sẽ còn nhiều địa phương miền xuôi xứ Quảng thực hành những lễ tục liên quan đến việc thiêng hoá các bến nước - nhân tố quan trọng của sự sống và sinh kế của cộng đồng mà nếu có điều kiện khảo cứu sâu hơn, rộng hơn chắc chắn sẽ cho ta nhiều thông tin cần hiết, thú vị để hiểu rõ hơn vai trò của các bến nước trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Liên quan đến vai trò không thể thiếu của nguồn nước đối với đời sống của cộng đồng và niềm tin tâm linh về ơn huệ của các vị thần rừng, thần cây, thần nước đã ban phát tài nguyên vô giá này cho con người, nhiều tộc người vùng cao xứ quảng như Cor, Ca Dong, Cơ Tu có tục cúng máng nước đầu năm mới. Đây là một lễ tục lớn của nhiều dân tộc vùng cao ở xứ Quảng. Lễ tục này có một số điểm tương tự tục cúng bến nước đầu năm của người Kinh nhưng được tổ chức với quy mô lớn hơn, tập hợp đông đảo dân làng (Vell, Plei, Plơi) và thực hành với những nghi lễ mang đậm dấu ấn tín ngưỡng nguyên thuỷ về nguồn nước. Trong đó nổi trội có lễ cúng máng nước của đồng bào Ca Dong huyện Nam Trà My, Bắc Trà My cũ nay là các xã Trà Giáp, Trà Dốc, Trà Mi, Trà Tập, Trà Vân, Trà Leng… thuộc thành phố Đà Nẵng. Lễ cúng được tổ chức khi mùa màng được thu hoạch xong, diễn ra trong ba ngày ba đêm thu hút sự tham gia của toàn bộ cộng đồng. Trước lễ cúng chủ làng huy động nhiều thành viên phát quang, dọn dẹp, chỉnh sửa máng nước từ đầu nguồn và những nơi có máng nước đi qua. Ngày thứ nhất chủ làng và các thầy cúng làm lễ tại máng nước, ngày thứ hai lễ cúng diễn ra tại các nóc nhà của từng gia đình, ngày thứ ba cúng chung tại nhà già làng, chủ làng. Cùng với việc cảm tạ thần linh đã ban cho nguồn nước, cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, bản làng yên ổn, lễ cúng máng nước còn là dịp để dân làng gặp gỡ vui chơi giải trí, hát giao duyên, biểu diễn cồng chiêng, chế biến nhiều món ăn riêng có để dâng cúng và cùng thưởng thức, qua đó tăng cường quan hệ cố kết cộng đồng để cùng chung lo công việc làng bản. Lễ cúng máng nước của đồng bào Ca Dong nói riêng, đồng bào thiểu số miền Tây Đà Nẵng nói chung là một di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hình tập quán xã hội và tín ngưỡng có giá trị cần tiếp tục khảo sát, nhận diện, lập hồ sơ đề nghị công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Lễ cúng bến nước của đồng bào miền xuôi, cúng máng nước của đồng bào dân tộc ít người vùng núi là lễ tục có nguồn gốc lâu đời liên quan đến tín ngưỡng sùng bái nước, nguồn nước - nhân tố duy trì sự sống và hình thành nên các cộng đồng dân cư ở xứ Quảng nói riêng, cả nước nói chung. Cùng với việc thể hiện lòng biết ơn đối với tự nhiên, lưu giữ những ký ức và tập tục cộng đồng, lễ tục này còn là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên, đặc biệt là bảo vệ nguồn nước sạch - mạch sống của cộng đồng.