Hiện nay, nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể có ý nghĩa quan trong đối với công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Đô thị cổ Hội An và trong mối tương quan với không gian văn hóa xứ Quảng và khu vực miền Trung.
Về bối cảnh mới, việc thay đổi đơn vị hành chính và mô hình quản lý đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Hội An, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn và cộng đồng nhằm bảo đảm tính liên tục trong công tác bảo tồn di sản, đồng thời thích ứng với yêu cầu phát triển đô thị và hội nhập trong giai đoạn mới.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và công nghiệp văn hóa, tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Công nghệ số góp phần hỗ trợ hiệu quả trong việc kiểm kê, số hóa, lưu trữ, quảng bá và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể; giúp di sản được tiếp cận rộng rãi hơn trong cộng đồng và trên môi trường mạng. Đồng thời, công nghiệp văn hóa mở ra khả năng khai thác giá trị di sản gắn với du lịch, giáo dục, truyền thông và các hoạt động sáng tạo, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Nhà Nghiên cứu Văn hóa Trần Văn An phát biểu tại Tọa đàm "Công tác Nghiên cứu khoa học về Đô thị cổ Hội An trong bối cảnh hiện nay" tổ chức ngày 27/5/2026
Luật Di sản văn hóa năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, quy định chi tiết về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể. Luật xác định cộng đồng là chủ thể sáng tạo, thực hành và truyền dạy di sản, đồng thời nhấn mạnh việc bảo vệ di sản phải gắn với môi trường văn hóa và đời sống cộng đồng.
Nghị định số 215/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa dưới nước, di sản văn hóa phi vật thể trong các Danh sách của UNESCO và Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể và chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể. Theo đó, Nghị định nhấn mạnh việc bảo vệ di sản phải gắn với vai trò trung tâm của cộng đồng chủ thể, bảo đảm duy trì môi trường thực hành văn hóa và tính chân xác của di sản.
Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển công nghiệp văn hóa. Đối với lĩnh vực di sản văn hóa, Nghị quyết đề cao nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể gắn với cộng đồng chủ thể.
Về động lực, các chủ trương, chính sách về văn hóa của Đảng và Nhà nước thời gian gần đây chính là động lực căn bản, vững chắc để nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nói riêng và văn hóa nói chung trên phạm vi cả nước và từng địa phương.
Việc sáp nhập Quảng Nam - Đà Nẵng góp phần tăng cường nguồn lực chuyên môn trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể cả về số lượng và chất lượng, về cơ sở, phương tiện… tạo điều kiện để đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể của địa phương. Đồng thời, việc mở rộng không gian quản lý và kết nối giữa các vùng văn hóa cũng góp phần thúc đẩy trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm và phối hợp tổ chức các hoạt động bảo tồn, truyền dạy, quảng bá di sản. Đây là cơ hội để địa phương đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển công nghiệp văn hóa và khai thác hiệu quả các giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn với phát triển du lịch và kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Có nhiều cơ hội hơn để giao lưu, hợp tác quốc tế, phát huy di sản văn hóa trong thời đại cộng nghệ số, công nghiệp văn hóa, đặc biệt là bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Việc ứng dụng công nghệ số giúp nâng cao hiệu quả quảng bá hình ảnh, giới thiệu các giá trị văn hóa truyền thống đến cộng đồng quốc tế thông qua các nền tảng trực tuyến, cơ sở dữ liệu số và các sản phẩm truyền thông sáng tạo.
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập và phát triển công nghiệp văn hóa cũng tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, trao đổi chuyên gia, tổ chức sự kiện văn hóa, xây dựng sản phẩm du lịch và sáng tạo văn hóa gắn với di sản. Qua đó, di sản văn hóa phi vật thể không chỉ được bảo tồn tốt hơn mà còn trở thành nguồn lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế và quảng bá hình ảnh văn hóa của địa phương trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Về thách thức, di sản văn hóa phi vật thể vốn gắn chặt với cộng đồng cư dân, không gian sống và môi trường thực hành văn hóa truyền thống. Vì vậy, khi không gian quản lý hành chính thay đổi, việc duy trì tính thống nhất của không gian văn hóa, bảo vệ môi trường thực hành di sản, cũng như bảo đảm sự liên kết giữa các cộng đồng chủ thể sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Điều này đòi hỏi cần có cơ chế phối hợp hiệu quả, thống nhất trong công tác quản lý di sản, đồng thời tiếp tục phát huy vai trò của cộng đồng địa phương nhằm bảo đảm tính toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An trong bối cảnh mới.
Trong bối cảnh mới với những động lực và thách thức như vậy, để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ nghiên cứu, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Đô thị cổ Hội An, cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Cần xây dựng Đề án tổng thể về nghiên cứu, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Đô thị cổ Hội An, trong đó đánh giá những việc đã thực hiện, những việc cần bổ sung và đề xuất những nhiệm vụ mới giai đoạn 2026 - 2030 và xa hơn. Đề án này cần được các cấp chính quyền thành phố Đà Nẵng phê duyệt để làm cơ sở triển khai thực hiện.
- Về nghiên cứu trong giai đoạn 2026 - 2030, cần tập trung triển khai một số hướng trọng tâm: Tập trung làm rõ truyền thống văn hóa biển ở Đô thị cổ Hội An, bao gồm không gian biển trải dài từ đèo Hải Vân đến Núi Thành trước đây; Nghiên cứu nghề buôn ở Hội An qua tư liệu thực địa (tư liệu dân gian và thành văn); nghiên cứu văn hóa ẩm thực Hội An truyền thống và tiếp biến; Ký ức và nếp sống Hội An trong những ngôi nhà cổ; Vai trò của nghề thủ công truyền thống trong việc định vị bản sắc văn hóa và khơi nguồn sáng tạo văn hóa; Văn hóa sông nước ở Hội An và vai trò kết nối văn hóa vùng miền,…
- Lập đề án quản lý, bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đã được công nhận theo quy định.
- Đề xuất xây dựng hồ sơ một số loại hình di sản văn hóa phi vật thể địa phương đề nghị Nhà nước công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: Món ăn Cao lầu, nghề làm lồng đền, nghề làm bánh in bột đậu phố Hội, bánh mì phố Hội,…
- Số hóa hồ sơ các loại hình di sản văn hóa phi vật thể đã được công nhận và tất cả các hồ sơ về văn hóa phi vật thể đã thực hiện trong các năm qua.
- Nâng cao năng lực chuyên môn về sưu tầm, nghiên cứu văn hóa phi vật thể theo hướng chuyên sâu, hiện đại, kết hợp với nhân học, dân tộc học, văn hóa học,… để có những công trình tầm cỡ và những đề xuất bảo tồn, phát huy phù hợp mang tính khả thi, đem lại hiệu quả.
- Ứng dụng công nghệ AI (trí tuệ nhân tạo), VR (thực tế ảo) trong việc xây dựng thư viện dữ liệu mở về văn hóa phi vật thể của địa phương để lan toả các giá trị, tái hiện các hình thái văn hóa phi vật thể, qua đó vừa bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống vừa tạo điều kiện để bồi dưỡng, kích hoạt những sáng tạo mới và các nhành công nghiệp văn hóa.
- Mở rộng liên kết với các cơ quan chuyên ngành của thành phố và giao lưu quốc tế để xây dựng, thực hiện các chương trình, đề án nghiên cứu, quản bá giới thiệu, phát huy di sản văn hóa phi vật thể của địa phương.