Trong tiến trình phát triển của thương cảng Hội An từ cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, cộng đồng thương nhân Nhật Bản giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Không chỉ góp phần thúc đẩy giao thương quốc tế, người Nhật còn để lại dấu ấn sâu sắc trong cấu trúc đô thị thương cảng, đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của Hội An.
Sự hình thành, phát triển và suy tàn của cộng đồng thương nhân Nhật Bản tại Hội An được đặt trong bối cảnh rộng lớn của mạng lưới thương mại hàng hải Đông Á - Đông Nam Á cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, khi các tuyến giao thương khu vực bước vào giai đoạn phát triển rất mạnh mẽ. Trong tiến trình này, sự xuất hiện của người Nhật tại Hội An không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà là kết quả của nhu cầu nội tại của nền kinh tế Nhật Bản và vị thế ngày càng quan trọng của Đàng Trong trong hệ thống thương mại khu vực.

Đô thị cổ Hội An. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An
A.Sallet trong bài viết nhan đề tiếng Việt “Hội An cổ”, trong BAVH đã nhắc đến sự kiện thuyền buôn Nhật Bản đến Hội An, Đàng Trong từ khá sớm: “Các quan hệ thương mại giữa Nhật Bản với Nam Kỳ đã có từ thời xa xưa. Những bài viết cỗ bằng Hán tự, các ký sự của hành khách hay giáo sĩ châu Âu có ghi là vào cuối thế kỷ XVI. Cha Diego Advarte có nhắc đến nhân dịp một sự cố về đạo giáo, lễ giỗ gần Hội An, trên đường đến Đà Nẵng có nhiều thương gia Nhật Bản trên chiếc tàu đậu năm 1583…”[1].
Mốc thời gian này phản ánh sự tham gia tích cực của Nhật Bản vào mạng lưới thương mại quốc tế thông qua hệ thống “Châu ấn thuyền” (shuinsen), một cơ chế do Mạc phủ cấp phép nhằm kiểm soát và thúc đẩy hoạt động buôn bán hải ngoại. Trong bối cảnh đó, Hội An nổi lên như một điểm dừng chân chiến lược nhờ vị trí nằm trên tuyến giao thương nối liền Trung Hoa - Nhật Bản và Đông Nam Á, đồng thời được bảo đảm bởi môi trường chính trị tương đối ổn định và chính sách cởi mở của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Ban đầu, hoạt động của thương nhân Nhật tại Hội An mang tính chất thời vụ, phụ thuộc vào chu kỳ gió mùa và lịch trình hàng hải. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là quá trình định cư của họ diễn ra khá nhanh. Từ chỗ chỉ là những thương nhân lưu động, người Nhật dần thiết lập các cơ sở vật chất phục vụ giao thương như kho hàng, nhà ở, bến bãi, từ đó hình thành một cộng đồng cư trú tương đối ổn định.
Trong giai đoạn hưng thịnh đầu thế kỷ XVII, cộng đồng người Nhật tại Hội An đạt đến mức độ phát triển cao cả về quy mô lẫn tổ chức. Sự hình thành khu phố Nhật là biểu hiện rõ nét của quá trình này: “…Thành phố này gọi là Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành phố, một phố người Tàu và một phố người Nhật. Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng, và sống theo tập tục riêng. Người Tàu có luật lệ và phong tục của người Tàu và người Nhật cũng vậy”[2].
Không gian cư trú riêng biệt này không chỉ phản ánh sự đông đảo của cộng đồng thương nhân Nhật Bản mà còn cho thấy mức độ tự trị tương đối trong tổ chức xã hội. Khu phố Nhật được vận hành như một đặc khu với các quy tắc, tập tục riêng, dưới sự giám sát, quản lý chung của chính quyền chúa Nguyễn.
Về phương diện kinh tế, thương nhân Nhật Bản giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế vận hành của thương cảng Hội An. Họ không chỉ tham gia trao đổi hàng hóa mà còn đóng vai trò trung gian trong việc lưu thông kim loại quý, đặc biệt là bạc. Thông qua việc mang bạc từ Nhật Bản đến Hội An để trao đổi lấy tơ lụa, quế, trầm hương và các sản vật của Đàng Trong: “Xứ Đàng trong như chúng tôi đã nói ở trên, rất giàu về mọi thứ cần thiết cho việc nuôi sống con người, dân chúng không tò mò, cũng không có khuynh hướng tìm đến các xứ khác để buôn bán... Đối với việc đó họ không cần sử dụng kỹ xảo: người ngoại quốc bị lôi cuốn bởi sự phồn thịnh của xứ sở và bị kích thích bởi lòng yêu sự giàu có, đã có mặt dày đặt ở đây; họ đến đây không những từ Đàng Ngoài, từ Cam Bốt, từ Cinceos và các miền lân cận khác mà còn xa hơn nữa như Trung Hoa, Ma Cao, Nhật Bản, Mani và Malacca; tất cả những người này đem đến Đàng Trong bạc để đem về hàng hóa bản xứ mà họ không mua nhưng họ đổi bằng bạc; bạc ở đây dùng như một món hàng, khi thì có giá, khi thì có kém hơn tùy theo lúc có nhiều hay hiếm, cũng xảy ra như thế đối với lụa và các thứ hàng hóa khác”[3].
Các hoạt động thương mại của thương nhân Nhật Bản diễn ra trong khuôn khổ các kỳ chợ phiên kéo dài theo mùa: “Việc giao dịch thương mãi với xứ Đàng Trong phần chính là người Trung Hoa và Nhật Bản; ở mỗi chợ phiên kéo dài 4 tháng tại một trong các hải cảng xứ này những người thứ nhất đưa vào đây bằng thuyền buồm, một số lượng hàng trị giá 4 đến 5 triệu bằng bạc, và những người thứ hai với vài chiếc tàu mà họ gọi là Somme, một lượng lụa lớn rất mịn, với các hàng hoá khác của xứ họ. Với chợ phiên này nhà vua thu một lợi nhuận rất lớn qua hải quan và thuế gián thu, và toàn xứ cũng hưởng một nguồn lợi đáng kể”[4]
Bên cạnh vai trò kinh tế, đời sống xã hội và văn hóa của cộng đồng người Nhật tại Hội An cũng mang nhiều đặc điểm đáng chú ý. Trong nội bộ, họ duy trì các yếu tố bản sắc văn hóa như tín ngưỡng, phong tục, tổ chức cộng đồng. Tuy nhiên, quá trình cư trú lâu dài đã dẫn đến sự thích nghi và giao thoa với môi trường bản địa. Các mối quan hệ hôn nhân, giao tiếp và hợp tác kinh tế với cư dân địa phương góp phần hình thành một không gian văn hóa đa dạng, nơi các yếu tố Nhật Bản, Việt Nam và các nền văn hóa khác cùng tồn tại và tương tác.
Đáng chú ý, sự ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo trong cộng đồng người Nhật tại Hội An: “Có bốn người của chúng ta ở trú sở này, hai linh mục và hai sư huynh, họ hoạt động không ngừng nghỉ cho việc gieo rắc tinh thần cho người bản xứ ở đây, và cả những người Nhật đến đây buôn bán. Đối với họ, ta rửa tội được 82 người, trong đó có 27 người lớn. Một người Nhật trước đây, rất ghét tôn giáo chúng ta, đã bị bệnh nặng và trở về với Chúa; tuy nhiên khi người ta giáo hóa anh ta, anh ta đã sung sướng qua đời... Cho đến giờ đây, người Thiên Chúa giáo khu này không chỉ sử dụng tràng hạt đeo vào cổ để tỏ mình là người Công giáo mà họ còn dùng nó khi đọc kinh. Người ta đã tranh thủ được người Nhật đối với đàn bà, giờ đây họ cưới phụ nữ như là vợ chứ không như là nàng hầu như trước đây. Điều thấy rõ là những năm về trước ở đây chỉ có hai đám cưới chính thức, nay tức cả đều làm đám cưới chính thức. Điều giúp ích nhất để tranh thủ họ là việc thực hiện hôn nhân theo kiểu Thiên Chúa giáo trong năm nay được thực hiện nhiều hơn là cách của những người theo chế độ đa thê”[5]. Hiện tượng này không chỉ cho thấy ảnh hưởng của các giáo sĩ phương Tây mà còn phản ánh tính linh hoạt trong việc tiếp nhận các yếu tố văn hóa mới của cộng đồng thương nhân Nhật Bản.
Tuy nhiên, sự hưng thịnh của cộng đồng người Nhật tại Hội An không kéo dài lâu dài mà nhanh chóng suy giảm từ giữa thế kỷ XVII. Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản, đặc biệt là việc thực thi chính sách bế quan tỏa cảng (sakoku). Chính sách này không chỉ hạn chế hoạt động thương mại mà còn làm gián đoạn dòng di cư của thương nhân Nhật ra nước ngoài, khiến cộng đồng tại Hội An mất đi nguồn bổ sung nhân lực và liên kết với quê hương. Hệ quả là khu phố Nhật dần suy tàn, nhường chỗ cho sự vươn lên của các cộng đồng thương nhân khác, đặc biệt là người Hoa, những người tiếp tục duy trì và phát triển mạng lưới thương mại trong khu vực.
A.Sallet (Đặng Như Tùng dịch) (1998), “Hội An cổ”, BAVH, tập VI, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.369.
Cristoforo Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr.98.
Nguyễn Cửu Sà (dịch) (2003), “Về nền thương mãi và các hải cảng của xứ Đàng Trong”, BAVH, tập XVIII, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.408.
Nguyễn Cửu Sà (dịch) (2003), “Về nền thương mãi và các hải cảng của xứ Đàng Trong”, sách đã dẫn, tr.409.
L. Cadière (Nguyễn Cửu Sà dịch) (2003), “Thư của linh mục Gasrpar Louis về xứ Đàng Trong”, BAVH, tập XVII, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.505-506.