Sắc phong thuỷ thần ở Hội An: Từ mỹ tự thần linh đến ý thức biển của triều Nguyễn

Thứ hai - 03/08/2026 22:44
Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, sắc phong thần là một loại hình tư liệu Hán Nôm đặc biệt quan trọng, phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước quân chủ với tín ngưỡng dân gian và đời sống cộng đồng làng xã.
Nếu đình làng là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng thì sắc phong chính là biểu tượng cho sự thừa nhận và bảo trợ của triều đình đối với vị thần được thờ phụng tại địa phương. Dưới triều Nguyễn, hệ thống sắc phong thần đạt đến quy mô hoàn chỉnh cả về hình thức văn bản, cơ chế quản lý lẫn ý nghĩa chính trị - tư tưởng. Trong bối cảnh ấy, các sắc phong thủy thần ở Hội An trở thành nguồn sử liệu có giá trị đặc biệt, không chỉ phản ánh tín ngưỡng biển của cư dân duyên hải mà còn cho thấy tư duy quản lý tín ngưỡng, nhận thức về không gian biển đảo và ý thức biển của nhà nước quân chủ Việt Nam thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.

Là một thương cảng quốc tế nổi tiếng từ thế kỷ XVI - XVIII, Hội An hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế biển và giao thương hàng hải. Sự tồn tại của đô thị này gắn chặt với môi trường sông nước, tuyến hải thương quốc tế và cộng đồng cư dân sống bằng nghề biển. Chính điều kiện tự nhiên và lịch sử ấy đã hình thành nên hệ thống tín ngưỡng biển rất phong phú, bao gồm tục thờ cá Ông, các nữ thần biển, thần cửa biển, thần bảo hộ ghe thuyền và nhiều vị thủy thần có nguồn gốc khác nhau. Khi nhà Nguyễn xác lập quyền lực trên toàn lãnh thổ Đại Nam vào đầu thế kỷ XIX, hệ thống tín ngưỡng dân gian ở Hội An cũng từng bước được đưa vào cơ chế quản lý chính thống thông qua việc ban sắc phong thần.

Hiện nay, Hội An còn lưu giữ hàng chục đạo sắc phong liên quan đến các thủy thần như Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương, Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân, Đông Nam Sát Hải nhị đại tướng quân, Thiên Hậu Thánh mẫu, Bạch Mã thái giám, Thuỷ Long thần nữ… với niên đại trải dài từ Gia Long, Minh Mạng đến Khải Định, Duy Tân[1]. Đây là hệ thống tư liệu có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử tín ngưỡng biển miền Trung cũng như cơ chế quản lý thần quyền của triều Nguyễn.

Sắc phong thần thời Nguyễn là loại văn bản mang tính chuẩn mực rất cao. Nội dung sắc phong thường bao gồm tên thần, mỹ tự được gia phong, lý do phong sắc và lời khẳng định quyền uy của hoàng đế. Tuy nhiên, đằng sau hình thức hành chính ấy là cả một hệ tư tưởng chính trị về mối quan hệ giữa nhà nước với thần linh và cộng đồng xã hội. Nhà nước quân chủ không đơn thuần công nhận tín ngưỡng dân gian mà qua đó thể hiện ý thức, tư tưởng và quyền lực nhà nước trước về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia.

Sắc phong thần Đại Càn năm Tự Đức thứ 3 (1850). Ảnh tư liệu: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An

Trong hệ thống sắc phong thủy thần ở Hội An, yếu tố nổi bật đầu tiên là mỹ tự thần linh. Mỹ tự là những danh hiệu do triều đình ban cho thần nhằm ca ngợi công trạng, quyền năng và địa vị linh thiêng của thần trong hệ thống thần điện quốc gia. Đối với các thủy thần ở Hội An, mỹ tự thường mang sắc thái đặc biệt liên quan đến biển cả, bảo hộ ghe thuyền và sự phù trợ cho quốc gia.

Tiêu biểu nhất là thần Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương. Tại Hội An, tổng số sắc phong của vị thần này gồm 59 sắc phong, trong đó có 10 sắc phong gốc, 49 sắc phong chỉ còn bản sao, những làng được sắc phong thờ thần Đại Càn như làng Cẩm Phô, Tân Hiệp, Sơn Phô, Thanh Nam, Sơn Phong, Hội An, An Mỹ, Thanh Đông, Thanh Hà, Để Võng, trong đó làng Hội An có số lượng sắc phong nhiều nhất là 11 sắc phong, làng ít nhất với 1 sắc phong là Để Võng, làng Minh Hương không có sắc phong nào về thần Đại Càn. Sắc phong có niên đại sớm nhất vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826), muộn nhất vào năm Khải Định thứ 9 (1924). Triều đình nhà Nguyễn đã ban mỹ tự cho thần Đại Càn là “Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Dực bảo Trung hưng Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương thượng đẳng thần[2].

Chuỗi mỹ tự này mang nhiều tầng ý nghĩa. Các cụm từ như “Quang đại”, “Phổ bác”, “Hiển hóa” nhấn mạnh quyền năng linh thiêng và khả năng cứu độ rộng lớn của thần; “Dực bảo Trung hưng” phản ánh vai trò thần linh trong việc phù trợ vương triều và bảo hộ quốc gia. Đặc biệt, danh xưng “Nam Hải” không chỉ mang nghĩa địa lý mà còn gắn thần linh với không gian biển phương Nam, tức vùng biển thuộc phạm vi cai quản của quốc gia Đại Nam.

Việc triều Nguyễn liên tục gia phong mỹ tự cho các thủy thần cho thấy quá trình chính thống hóa tín ngưỡng dân gian. Ban đầu, nhiều thủy thần chỉ là thần địa phương hoặc nhiên thần gắn với đời sống cư dân biển, nhưng thông qua cơ chế sắc phong, họ được nâng lên địa vị chính thống trong hệ thống thần quyền quốc gia. Đây là đặc điểm rất tiêu biểu của mô hình nhà nước quân chủ Đông Á, nơi thần linh vừa mang tính dân gian vừa là công cụ biểu tượng của quyền lực chính trị.

Đối với tín ngưỡng cá Ông (Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân), quá trình chính thống hóa này càng thể hiện rõ hơn. Trong tâm thức cư dân biển miền Trung, cá Ông là loài linh vật cứu nạn ngoài khơi, được xem như vị thần bảo hộ của ngư dân. Về tục thờ cá Ông, sử gia Trịnh Hoài Đức đã ghi chép trong Gia Định thành thống chí như sau: “… Tượng ngư, cá voi. Đầu tròn, nơi trán có lỗ phun nước ra, miệng mũi giống như con voi, trơn láng, không vảy, đuôi có hai chi giống đuôi tôm, tánh từ thiện biết cứu người nên nhà ngư nghệ thường gọi là nhân ngư. Hay đuổi các thứ cá vào lưới, gặp thuyền đi biển bị chìm úp, cá này thường đưa người vào bờ. Dân miền biển kính lễ, thấy cá trôi dạt, dân chài thường góp tiền mua vải, hòm liệm chôn. Người trưởng trong ngư hộ đứng làm tang chủ, cất liệm phụng sự. Tự điển nhà vua phong làm Nam Hải tướng quân vì ở vùng Nam Hải thì được linh ứng còn ở biển khác thì không linh[3].

Triều đình nhà Nguyễn đã nhiều lần ban sắc phong và gia tặng mỹ tự cho thần là “Từ tế Chương linh Trợ tín Trừng trạm Dực bảo trung hưng”, với ý nghĩa tôn vinh, đồng thời cho lập lăng thờ, cấp đất hương hoả, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thờ cúng của ngư dân.

Tại Hội An, hiện còn rất nhiều di tích thờ cá Ông do cộng đồng dân cư của các làng xã ở Hội An tạo lập như lăng Ông Ngư tại xóm Đình, thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp; lăng Ông An Bàng tại khối An Bàng, phường Hội An Tây; lăng Ông Cẩm Nam tại khối Hà Trung, phường Hội An; lăng Ông Cẩm Thanh tại thôn Thanh Nhứt, phường Hội An Đông; lăng Tiêu Diện tại khối Phước Thịnh, phường Hội An Đông… Tổng số sắc phong vị thần này gồm 15 sắc phong với 2 sắc phong gốc, còn lại là bản sao. Trong đó, làng có sắc phong nhiều nhất là làng Thanh Đông (6 sắc phong), làng Cẩm Phô và Tân Hiệp có 2 sắc phong, ít nhất trong số các làng xã ở Hội An được sắc phong. Sắc phong có niên đại sớm nhất vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826), muộn nhất vào năm Duy Tân thứ 5 (1911).

Việc phong sắc cho cá Ông từ một loài động vật biển được đưa vào hệ thống thần điện chính thống cho thấy nhà Nguyễn đã chủ động sử dụng tín ngưỡng dân gian như công cụ quản lý xã hội vùng biển. Khi cá Ông được ban sắc phong, niềm tin dân gian của cư dân biển không còn chỉ tồn tại trong phạm vi cộng đồng địa phương mà trở thành bộ phận của hệ tư tưởng chính trị - tinh thần quốc gia.

Di tích Lăng Ông tại Cù Lao Chàm. Ảnh tư liệu Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An
 
Đáng chú ý hơn cả trong hệ thống sắc phong thủy thần ở Hội An là sự xuất hiện dày đặc của các thuật ngữ liên quan đến biển như “Nam Hải”, “Sát Hải”, “hải vũ”… Điều này phản ánh khá rõ ý thức biển của triều Nguyễn.

Trong sắc phong Đông Nam Sát Hải nhị đại tướng quân tại làng Cẩm Phô năm Minh Mạng thứ 7 (1826) có đoạn: “Phụng ngã Thế tổ Cao Hoàng đế thống nhất hải vũ bỉ thần nhân” (Nhân dịp Thế Tổ Cao Hoàng đế thống nhất đất nước, người và thần đều vui mừng bởi cơ đồ vững mạnh). Khái niệm “hải vũ” ở đây có thể hiểu là “cõi biển”, phản ánh tư duy lãnh thổ bao gồm cả không gian biển đảo dưới quyền cai quản của quốc gia Đại Nam. Đây là chi tiết đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu nhận thức biển đảo dưới thời Nguyễn.

Nếu trong nhiều giai đoạn trước đó của lịch sử Việt Nam, biển thường được nhìn nhận chủ yếu như không gian ngoại vi thì đến thời Nguyễn, biển ngày càng trở thành thành tố chiến lược trong cấu trúc lãnh thổ quốc gia. Điều này gắn với bối cảnh nhà Nguyễn xác lập quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Đại Nam, mở rộng quản lý vùng duyên hải và chú trọng hoạt động hàng hải.

Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, triều Nguyễn có hệ thống quản lý khá chặt chẽ đối với vùng ven biển, cửa biển và hoạt động tàu thuyền. Đồng thời, triều đình cũng duy trì các đội Hoàng Sa - Bắc Hải để khai thác và quản lý vùng biển đảo ngoài khơi[4]. Trong bối cảnh ấy, việc phong sắc cho các thủy thần biển không đơn thuần là hoạt động tín ngưỡng mà còn mang ý nghĩa biểu tượng chính trị.

Có thế thấy, sắc phong thần là hình thức nhà nước thể hiện quyền lực của mình thông qua hệ thống thần linh. Khi nhà vua phong thần, thần linh trở thành lực lượng bảo hộ cho vương triều; ngược lại, quyền uy của nhà vua cũng được củng cố thông qua niềm tin của cộng đồng đối với thần linh. Đây là mối quan hệ hai chiều giữa thần quyền và vương quyền trong mô hình nhà nước quân chủ truyền thống.

Ở Hội An, điều này đặc biệt rõ trong các sắc phong có cụm từ “Dực bảo Trung hưng”. Đây là mỹ tự thường dùng cho các thần được xem là có công phù trợ triều đại. Qua đó có thể thấy nhà Nguyễn không chỉ xem các thủy thần là lực lượng bảo hộ ghe thuyền hay cư dân biển mà còn là lực lượng siêu nhiên bảo vệ quốc gia và chính quyền trung ương.

Một phương diện rất quan trọng khác là chính sách quản lý tín ngưỡng của triều Nguyễn thông qua hệ thống sắc phong. Khác với quan niệm hiện đại xem tín ngưỡng như lĩnh vực hoàn toàn thuộc về đời sống dân gian, trong xã hội truyền thống, tín ngưỡng luôn nằm trong phạm vi quản lý của nhà nước. Nhà Nguyễn phân loại thần linh thành nhiều cấp bậc như thượng đẳng thần, trung đẳng thần và hạ đẳng thần. Các làng xã muốn được phong sắc phải có hồ sơ thần tích trình lên triều đình để xét duyệt.

Đối với Hội An, nơi từng là thương cảng quốc tế và có cộng đồng cư dân đa dạng, việc quản lý tín ngưỡng lại càng quan trọng. Thông qua sắc phong thần, triều Nguyễn vừa kiểm soát đời sống tinh thần của cư dân địa phương, vừa củng cố tính chính danh của quyền lực trung ương tại vùng duyên hải.

Ngoài các thủy thần mang nguồn gốc bản địa Việt Nam, hệ thống sắc phong ở Hội An còn ghi nhận sự hiện diện của tín ngưỡng ngoại nhập, tiêu biểu là Thiên Hậu Thánh mẫu của cộng đồng người Hoa. Thiên Hậu vốn là nữ thần biển phổ biến trong cộng đồng thương nhân Phúc Kiến - Quảng Đông, được người Hoa mang đến Hội An từ thế kỷ XVII. Dưới triều Nguyễn, Thiên Hậu được phong sắc nhiều lần và chính thức được thừa nhận trong hệ thống thần điện địa phương. Năm Minh Mạng năm thứ 5 (1824) được triều đình ban phong mỹ tự là: “Hồng Từ Bác Nghĩa An Tế Thượng Đẳng Thần”. Đến năm Tự Đức năm thứ 3 (1850) gia phong mỹ tự: Hồng Từ Bác Nghĩa An Tế Phổ Trạch Linh hựu Gia huống Trang huy thượng đẳng thần[5]. Điều này phản ánh tính linh hoạt trong chính sách tín ngưỡng của triều Nguyễn. Thay vì loại bỏ tín ngưỡng ngoại lai, nhà Nguyễn lựa chọn con đường dung hợp và quản lý. Qua đó, triều đình vừa ổn định cộng đồng Hoa kiều vừa duy trì môi trường thương mại quốc tế tại Hội An.

Hệ thống sắc phong thủy thần ở Hội An là nguồn tư liệu đặc biệt quý giá để nghiên cứu nhiều vấn đề như lịch sử tín ngưỡng biển, cơ chế quản lý xã hội của nhà nước quân chủ, cấu trúc thần điện triều Nguyễn và ý thức biển đảo trong lịch sử Việt Nam. Các sắc phong không chỉ chứa đựng giá trị văn bản học mà còn phản ánh tầng sâu tư tưởng chính trị và tâm thức văn hóa của cư dân duyên hải miền Trung.

Ngày nay, trong bối cảnh nghiên cứu biển đảo ngày càng được chú trọng, hệ thống sắc phong thủy thần ở Hội An có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi tín ngưỡng dân gian, phản ánh sự hiện diện lâu dài của cư dân Việt Nam trên không gian biển đảo miền Trung. Đồng thời, các sắc phong này cũng cho thấy triều Nguyễn đã sớm hình thành nhận thức về vai trò chiến lược của biển trong cấu trúc lãnh thổ quốc gia. Vì vậy, việc nghiên cứu, bảo tồn và khai thác giá trị hệ thống sắc phong thủy thần ở Hội An không chỉ góp phần làm sáng tỏ lịch sử văn hóa biển Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định truyền thống hướng biển và ý thức chủ quyền biển đảo của dân tộc qua nhiều thế kỷ.



Tài liệu tham khảo
1. Trần Văn An (2016), Biển đảo trong văn hóa văn nghệ dân gian Hội An, Nxb Hội Nhà văn.
2. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2021), Di sản Hán Nôm Hội An, Tập 6: Sắc phong, Nxb Đà Nẵng.
3. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2020), Làng xã ở Hội An qua tư liệu Địa bạ triều Nguyễn và Quảng Nam xã chí, Nxb Đà Nẵng.
4. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Sài Gòn xuất bản.
5. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 13, Nxb Thuận Hóa, Huế.

 
 

[1] Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2021), Di sản Hán Nôm Hội An, Tập 6: Sắc phong, Nxb Đà Nẵng.
[2] Sắc phong năm Khải Định thứ 9 (1924), Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2021), sách đã dẫn, tr.62.
[3] Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Sài Gòn xuất bản, tr.58.
[4] Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 13, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[5] Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An (2021), sách đã dẫn, tr.113-115.
 

Tác giả: Nguyễn Văn Thịnh

Nguồn tin: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây