Cách mạng tháng Tám qua thơ ca dân gian ở Hội An

Chủ nhật - 16/08/2026 23:21
Những ngày này của tám mươi mốt năm về trước, quê hương Hội An đang rập ràng khí thế đấu tranh, khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân. Từ trong lời ca câu hát một thời máu lửa của quần chúng nhân dân, thế hệ hôm nay như được nghe Những buổi ngày xưa vọng nói về.
dji 20240830180729 0008 d enhanced nr

Maxim Gorki từng nói, chúng ta “không thể hiểu biết lịch sử chân chính của nhân dân lao động được nếu không biết văn học truyền khẩu dân gian… Từ thời tối cổ văn học dân gian đã đi kèm theo lịch sử một cách khăng khít và đặc thù[1]
. Còn có lịch sử nào chân thực hơn lịch sử được rút ra từ những bài ca, tiếng hát của quần chúng nhân dân, nảy nở ngay trong quá trình sống, lao động, yêu thương và tranh đấu hết mình ấy?


Dưới chế độ đô hộ của thực dân Pháp, nhân dân ta phải chịu cảnh lầm than một cổ hai tròng, sống lắt lay trong cảnh khốn cùng, gia đình ly tán, quê hương xơ xác tiêu điều, sao khỏi những rên xiết khóc than. Hiện thực bi thương ấy đã ghi vào thơ ca dân gian những xúc cảm thẩm mỹ mãnh liệt, kết thành một hình tượng nhân vật trữ tình mới: hình tượng người dân mất nước[2].

 
Anh ơi nhà cửa tan hoang
Cũng vì giặc Pháp ngang tàn dã man
Con xa cha vì bom với đạn
Vợ xa chồng vì tản với cư

 
Nhà không còn để ở, cơm không có mà ăn, nhưng dân cùng đinh phải nai lưng ra đóng thuế, nộp sưu cho làng, đi xâu phục dịch không công cho bè lũ cướp nước, hại dân:
 
Con chim xanh xanh ăn quanh bãi cát
Thiếp lo cho chàng hai đồng sáu giác công ngân
Chàng cày thiếp cấy lấy giống bỏ phân
Nhịn ăn nhịn mặc để nộp công ngân cho làng
Nộp rồi trong dạ chưa an
Tai nghe mõ đánh ngoài đàng thúc xâu
Tài chi ai không thảm không sầu
Khoai lang non cũng nhổ bỏ vô bầu cho chàng đi

 
Nhưng, “Ở đâu có áp bức, ở đấy có đấu tranh” (Karl Marx). Chân lý ấy được phản ánh vào văn học dân gian thành một bước tiến từ hình tượng người dân mất nước đau thương đến hình tượng nhân dân phản kháng quyết liệt. Dù bị vùi xuống đáy bùn lầy đói khổ, dốt nát nhưng tâm hồn của những con người khốn cùng nơi đây vẫn luôn được thắp sáng bởi ý chí bất khuất, lòng yêu nước nồng nàn. Họ nuôi lớn tinh thần, lòng khao khát sống và đấu tranh cho cuộc sống bằng những lời ca phản kháng mạnh mẽ, lột trần mọi trò lừa bịp của kẻ thù, làm dấy lên từng đợt sóng ngầm của tinh thần đoàn kết đấu tranh, quật khởi. Khi hợp lại cùng nhau, họ mạnh mẽ hơn cả phong ba bão táp. Từng dòng người ào ào như thác lũ trong các lần xuống đường đấu tranh chống áp bức, phản đối chính sách hà khắc của thực dân, mà đỉnh cao là phong trào chống sưu thuế tại Tòa Công sứ Hội An (năm 1908) đã đưa ra trước ánh sáng lịch sử một lực lượng chính trị quan trọng: quần chúng nhân dân.

Dân gian nơi đây còn lưu truyền lời sấm về thời điểm quân Pháp bại trận như một sự hả hê sau bao nhiêu năm uất nghẹn căm hờn của quần chúng nhân dân:

 
Bây chừ lúa mọc trên chì
Voi đi trên giấy còn gì “thầy tăng

 
Thầy tăng” nói lái thành “thằng tây” là lối nói lóng đặc trưng của người xứ Quảng. Đầu những năm 40 của thế kỷ XX, vì đang đà thua quân Nhật, cộng với việc đồng tiền Đông Dương bị rớt giá thảm hại, thực dân Pháp buộc lòng phải in thêm tiền và chọn vật liệu mới rẻ hơn trước. Đồng tiền Đông Dương đúc mới có in hình bụi lúa, tờ tiền 2 hào in hình con voi.
Thời gian đấy, các diễn biến chiến sự dồn dập của thế chiến thứ II khiến cục diện thế giới thay đổi nhanh chóng, thời cơ ngàn năm có một để dân ta nổi dậy giành chính quyền, giải phóng dân tộc.

“… Dân Đông Dương mình có thua sút gì đâu
Lực lượng đoàn kết bấy lâu sẵn sàng
Chờ cho Âu Mỹ lan tràn qua đây
Còn về thằng Nhật thằng Tây
Lực lượng đâu nó đánh với mà Đồng Minh
Lương thực ta sẵn trong kho
Lực lượng đoàn kết còn lo nỗi gì
Chờ cho có cánh có vi
Rồi đây ta sẽ vậy thì đấu tranh
Đánh cho Pháp, Nhật tan tành
Công nông giành lại mới đành dạ ta

 
Đẹp sao hình ảnh anh Vệ quốc quân những ngày kháng chiến chống Pháp đã ghi tạc vào thơ ca xứ sở. Họ bước chân đi từ đồng ruộng quê hương, còn thiếu thốn đủ mọi bề; vũ khí trong tay thô sơ là thế, quân trang quân dụng cũng phải tự túc lo liệu mà vẫn hiên ngang xông pha chiến trận diệt giặc thù. Có lẽ, trĩu nặng nhất trong hành trang của các anh là mối nợ nước, thù nhà quyết phải trả cho bằng được.
 
Vì thương nước nhà ôm súng ra đi,
Trước là trả thù tám mươi năm ni nó đè.
Lời tuyên truyền mẹ chị cũng đều nghe
Thanh niên, phụ nữ, nhi đồng cũng đang sung.
Ra đi sắm áo cùng quần
Trên đầu sắm mũ dưới chân sắm giày
Cha tảo tần mẹ tiết kiệm cho hay
Bữa ăn bớt nhúm mười ngày được đầy lon.
Cũng đến nay gỡ bớt trong nồi
Đem ra cứu quốc giết ôi tham tàn!
Cùng bù nhìn là lũ Việt gian,
Cam tâm nối giáo dẫn đàng cho Tây đi

 
Thời cơ đến, ngọn đuốc cách mạng giương lên, lời của Đảng, lời của Bác là lời hiệu triệu thiêng liêng thổi bùng bao ngọn lửa đang âm ỉ cháy; khắp chốn cùng quê đâu đâu cũng sừng sững những con người “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Nhân dân Hội An chung một khí thế sục sôi như thế, đã chớp nhanh thời cơ giành chính quyền. Chiến công ấy như một phát súng lệnh, khích lệ nhân dân toàn Tỉnh nhất tề nổi dậy, và rồi Quảng Nam trở thành một trong những tỉnh, thành giành chính quyền sớm nhất cả nước.
 
Nhớ đêm nằm gối tầm vông
Sáng ra đường nổ cơn giông biểu tình
Chùa Cầu rạng ánh bình minh
Xuân Lâm nổi trống gọi đình Cẩm Phô
Thác người cuồn cuộn nhấp nhô
Cờ hồng lộng bóng Bác Hồ kính yêu
Bấy lâu uất hận đã nhiều
Lòng dân như ngọn thuỷ triều dâng cao
Có súng dùng súng, dao dùng dao
Vũ trang chính trị xôn xao lịnh truyền
Ngày vui giành được chính quyền
Phá đồn cướp súng, đi lên rập ràng

 
Những nhìn nhận, thái độ lịch sử mà nhân dân ghi lại, tuy không bằng cách chép ra giấy, tạc vào bia nhưng có sức sống mãnh liệt hơn cả. Bởi vì, những sáng tác ấy được nảy nở, thưởng thức và lưu truyền bằng phương thức rất mực tự nhiên, là tiếng nói tâm can của cả cộng đồng, được cộng đồng truyền miệng, nhuận sắc để ngày một sáng trong, hoàn thiện; không vì mục đích tự thân của riêng ai, hay chịu bất kì một sự câu thúc nào. Sức nóng của khí thế rầm rập ngút trời chuẩn bị cho trận tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên khắp cả nước là nguồn chất liệu vô cùng phong phú, là nhựa sống dồi dào để văn nghệ dân gian Hội An thời kỳ này tiếp nối dòng mạch tràn trề từ đời đời ông cha dựng nước và giữ nước; len lỏi rộng khắp, tốt tươi, đâm thêm chồi nảy thêm lộc, nuôi dưỡng tinh thần, ý chí bao lớp người.

 
 

[1] Maxim Gorki (1970), Bàn về văn học, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.256.
[2] Nguyễn Văn Bổn (1983), Văn nghệ dân gian Quảng Nam Đà Nẵng, Sở Văn hóa và Thông tin Quảng Nam Đà Nẵng, tr.54.
 

Tác giả: Thái Thị Liễu Chi

Nguồn tin: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây