An Bàng ngày nay là địa danh quen thuộc của Hội An nằm ở khu vực ven biển phía đông bắc, thuộc tổ dân phố Cẩm An, phường Hội An Tây. Tuy nhiên, trong lịch sử, vùng đất này từng mang tên làng Đại An. Sự chuyển đổi từ Đại An sang An Bàng không chỉ phản ánh sự thay đổi tên gọi của một đơn vị cư trú mà còn gắn với quá trình hình thành, phát triển và điều chỉnh địa giới hành chính của vùng đất ven biển Hội An qua nhiều thời kỳ.
Theo ký ức của các bậc cao niên, làng Đại An trước đây có tên là làng Sợi Mây. Hiện chưa tìm thấy tư liệu chính thức xác định chính xác thời điểm thành lập làng. Tuy nhiên, địa bạ làng Đại An lập vào năm Gia Long thứ 13 (1814) cho thấy đến đầu thế kỷ XIX, Đại An là một đơn vị làng xã đã được xác lập, có địa giới và diện tích đất đai.
Căn cứ vào địa bạ năm 1814, có thể xác định làng Đại An được hình thành muộn nhất vào cuối thế kỷ XVIII hoặc đầu thế kỷ XIX. Cùng với Đại An, trong đợt lập địa bạ này còn có nhiều làng xã khác của khu vực Hội An như Đông An, Hội An, Tân An, Kim Bồng, Phong Hộ, Minh Hương, An Mỹ, Hoa Phô, Để Võng và Tân Hiệp. Điều đó cho thấy đến đầu thế kỷ XIX, các làng xã ở khu vực Hội An đã được định hình tương đối rõ nét.
Theo địa bạ, làng Đại An thuộc tổng Thanh Châu, thuộc Võng Nhi, phủ Điện Bàn. Địa giới của làng được xác định như sau: phía Đông giáp biển, giáp địa phận xã Phụ lũy Phước An và xã Thanh Hà; phía Tây giáp sông và giáp xã Hà Tôm, phía Nam giáp sông và giáp xã Thanh Hà, phía Bắc giáp biển và giáp xã Hà Tôm[1]. Những ghi chép này cho thấy Đại An là một làng nằm trong không gian cư trú ven biển, có quan hệ trực tiếp với hệ thống sông ngòi và các làng xã lân cận. Địa giới được ghi nhận trong địa bạ không chỉ có giá trị xác định phạm vi cư trú của làng Đại An vào đầu thế kỷ XIX mà còn góp phần nhận diện vị trí của làng trong không gian lịch sử Hội An thời bấy giờ.
Tên gọi Đại An tiếp tục tồn tại trong các tư liệu vào cuối thế kỷ XIX. Sách Đồng Khánh dư địa chí và xà cò hiện còn ở đình đá An Bàng đều cho thấy địa danh Đại An vẫn được sử dụng vào năm 1889[2].
Bãi biển An Bàng. Ảnh tư liệu Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thị xã Hội An được chính thức thành lập gồm 18 xã lấy từ 4 tổng: Thanh Châu, Đại An, Mỹ Khê, Phú Chiêm của huyện Điện Bàn và huyện Duy Xuyên lập nên[3]. Theo sự kiện này cho biết trong 18 làng xã Hội An có tên làng An Bàng. Cũng trong một nghiên cứu khác cho biết, tại làng An Bàng, các dòng họ tiền hiền ghi nhận gồm Trần, Lê, Đinh, Nguyễn, Phạm, gia phả hiện nay không còn rõ về cội nguồn, chỉ còn lưu lại cho biết đã lưu truyền được hơn 15 đời[4]. Có thể thấy, sau năm 1945, tên gọi An Bàng đã phổ biến và dần thay thế cho tên gọi Đại An.
Từ nguồn tư liệu hiện có, có thể nhận thấy quá trình chuyển đổi tên gọi Đại An - An Bàng diễn ra trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, do chưa tìm thấy văn bản hành chính xác định thời điểm và nguyên nhân chính thức của việc đổi tên, chưa thể xác định chính xác năm làng Đại An được gọi là An Bàng. Sự thay đổi tên gọi từ Đại An sang An Bàng không chỉ là sự thay đổi về địa danh mà còn phản ánh quá trình biến đổi của cộng đồng cư dân, tổ chức làng xã và không gian hành chính trong lịch sử vùng ven biển Hội An.
Năm 1946, thực hiện chủ trương tổ chức lại các đơn vị hành chính của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thị xã Hội An chia làm 8 khu phố, làng An Bàng thuộc Khu 7 - Tuy Nhạc, cùng với Phước Trạch và Tân Thành.
Đến năm 1949, thị xã Hội An được tổ chức lại thành 4 khu hành chính, làng An Bàng thuộc Khu Hội Điền (gồm phần đất của Cẩm Hà, Cẩm Châu, An Bàng, Tân Thành, Phước Trạch).
Tháng 3/1951, Hội An tiếp tục được chia thành 5 đơn vị hành chính. Làng An Bàng thuộc Khu Bắc, cùng với Trường Lệ, Trà Quế, An Mỹ, Đế Võng, Sơn Phô, Thanh Tây, Xóm Chiêu, Xóm Mới, Cồn Đầm, Phước Trạch và Tân Thành.
Có thể nói, những lần điều chỉnh này cho thấy trong khoảng một thập niên sau năm 1945, làng An Bàng nằm trong những đơn vị hành chính có quy mô và phạm vi khác nhau. Tuy nhiên, tên gọi làng An Bàng vẫn được duy trì, qua đó cho thấy tính ổn định tương đối của địa danh hành chính trong đời sống dân cư.
Tháng 7/1956, Chính quyền Việt Nam cộng hòa lập khu Hành chính Cẩm Phô thuộc quận Điện Bàn, gồm xã: Cẩm Hà, Cẩm Châu, Cẩm An, Cẩm Thanh, Cẩm Nam, Cẩm Kim, Hội An, Cẩm Hải. Trong cơ cấu tổ chức, những làng cũ như An Bàng, Phước Trạch và Tân Thành, Tân Hiệp trở thành các thôn, ấp thuộc xã Cẩm An.
Tháng 7/1962, Khu hành chính Cẩm Phô được thay thế bằng quận Hiếu Nhơn[5]. Xã Cẩm An lúc này vẫn gồm 4 thôn, ấp là An Bàng, Tân Hiệp, Phước Trạch và Tân Thành. Theo danh sách dân số năm 1962, An Bàng có 1.822 người, Tân Hiệp 326 người, Phước Trạch 3.002 người và Tân Thành 1.482 người[6].
Năm 1978, thực hiện Quyết định số 131-BT ngày 25/7/1978 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng về việc phân vạch địa giới hành chính một số xã thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, thị xã Hội An gồm 3 phường và 7 xã, trong đó có xã Tân Hiệp tách ra từ xã Cẩm An[7]. Đây là một dấu mốc quan trọng đối với không gian hành chính của làng An Bàng - Cẩm An, bởi nó xác lập lại phạm vi quản lý của xã Cẩm An trong giai đoạn sau chiến tranh.
Đến năm 2004, thực hiện Nghị định số 20/2004/NĐ-CP của Chính phủ, thị xã Hội An tiếp tục được điều chỉnh, thành lập thêm các xã, phường mới. Xã Cẩm An được nâng lên thành phường Cẩm An, đồng thời một phần diện tích của xã Cẩm An cũ được tách ra để thành lập phường Cửa Đại[8]. Từ đây, An Bàng trở thành một khối khu dân cư thuộc phường Cẩm An. Trong quá trình đô thị hóa và phát triển du lịch của Hội An, An Bàng ngày càng được biết đến rộng rãi không chỉ với tư cách một địa danh cư trú truyền thống mà còn là một không gian ven biển có giá trị về cảnh quan, sinh kế và văn hóa cộng đồng.
Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và việc sắp xếp lại đơn vị hành chính từ ngày 1/7/2025, An Bàng hiện thuộc tổ dân phố Cẩm An, phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, trong khoảng hơn hai thế kỷ, An Bàng đã trải qua nhiều thay đổi với tên gọi hành chính khác nhau: từ làng Đại An đến làng An Bàng, rồi trở thành thôn, ấp An Bàng thuộc xã Cẩm An, sau đó là khối An Bàng thuộc phường Cẩm An, và hiện nay thuộc phường Hội An Tây.
Cùng với các tư liệu lịch sử, trong nghiên cứu về làng nghề đánh bắt cá Cẩm An (tên gốc tiếng Anh là Cam An: a fishing village in central Vietnam) do John D. Donoghue và cộng sự thực hiện đã khái quát bức tranh văn hoá, xã hội, chính trị Cẩm An năm 1962, trong đó có An Bàng.
Tư liệu cho biết, thôn An Bàng (thôn I) là một trong 4 đơn vị hành chính của Cẩm An, cùng với Tân Thành là 2 thôn lớn nhất. Thôn An Bàng có 6 xóm, xóm lớn nhất gồm 130 hộ, các xóm còn lại từ 30 đến 50 hộ. Mỗi xóm là một cụm những nhà sát gần nhau và ngay cạnh xóm khác, chỉ cách nhau vài phút đi bộ. Ở những nơi có dân số khá ổn định suốt thời gian qua như An Bàng (thôn I), Tân Thành (thôn II) và thôn đảo Tân Hiệp (thôn IV), các xóm vẫn duy trì được bản sắc cộng đồng và tôn giáo.
Về hoạt động nghề nghiệp, khai thác thuỷ hải sản là một trong những ngành nghề từng giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của cư dân An Bàng trước đây. Theo số liệu thống kê năm 1962, An Bàng có 148 phương tiện đánh bắt, trong đó có 29 tàu đánh bắt xa bờ; 53 ghe đánh bắt gần bờ bằng lưới giăng; 40 ghe sử dụng lưới thả và 26 phương tiện kết hợp cả hai phương thức khai thác. Những số liệu này cho thấy nghề biển đã hình thành một bộ phận sinh kế quan trọng của cộng đồng cư dân nơi đây trước đây, dù hoạt động đánh bắt hiện nay đã giảm đi và nhường chỗ cho các hoạt động khai thác dịch vụ du lịch.
Có thể nói, dù chưa có tư liệu xác định chính xác thời gian làng Đại An chuyển sang tên gọi An Bàng, song sự tồn tại của làng An Bàng không chỉ góp phần làm rõ lịch sử một vùng đất mà còn phản ánh quá trình hình thành, biến đổi và phát triển của một cộng đồng cư dân ven biển trong tiến trình lịch sử Hội An. Trong thời gian tới, cần tiếp tục khai thác các nguồn tư liệu như địa bạ, gia phả, văn bia, bản đồ và tư liệu dân gian nhằm làm rõ hơn nguồn gốc địa danh, quá trình hình thành cộng đồng cư dân thời điểm chuyển đổi từ làng Đại An sang An Bàng.
Địa bạ làng Đại An. Bản sao lưu tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An.
Xà có ghi xã Đại An năm Thành Thái nguyên niên (1889).
Ban chấp hành Đảng bộ thị xã Hội An (1996), Lịch sử Đảng bộ thị xã Hội An 1930 – 1975, Nhà xuất bản Đà Nẵng cấp phép, tr.12-13. Các làng cũ: Thanh Hà, Cẩm Phô, Minh Hương, Hội An, Sơn Phô, Kim Bồng Đông, Kim Bồng Tây, Sơn Phong, Đế Võng, Thanh Nhất, Thanh Nhì, Thanh Tam, Thanh Đông, Phước Trạch, An Bàng, Cù Lao Chàm và 2 vạn ghe Phước Châu, Thanh Lộc.
Nguyễn Chí Trung, “Làng xã ở Hội An qua các tư liệu thư tịch, bia ký, khảo cổ”, chuyên đề thuộc Đề tài Nghiên cứu, biên soạn địa chí Hội An.
Nghị định số 584-NV ngày 19/7/1963 của Tổng thống Việt Nam cộng hòa về việc thành lập quận mới lấy tên là quận Hiếu Nhơn. Bản sao lưu tại Trung tâm QLBT DSVH Hội An.
Quyết định số 131-BT ngày 25/7/1978 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng về việc phân vạch địa giới hành chính một số xã thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Nghị định số 20/2004/NĐ-CP ngày 12/1/2004 v/v thành lập xã, phường thuộc thị xã Hội An và các huyện Đại Lộc, Quế Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam.
Phạm Thị Mỹ Tâm dịch nghĩa.