Hội An trong so sánh với một số thương cảng Đông Nam Á

Thứ hai - 26/10/2026 05:58
Vào thế kỷ XVI - XVIII, cùng với Đàng Trong, nhiều thể chế khu vực đã dự nhập vào dòng chảy thương mại khu vực. Hội An với những vai trò, đóng góp quan trọng đã trở thành thương cảng quốc tế tiêu biểu của Đại Việt.
           Cùng với Hội An, lịch sử Đông Nam Á cũng ghi nhận sự xuất hiện của nhiều thương cảng có vị thế, quy mô lớn, trong đó nổi lên vai trò của Batavia (Indonesia), Manila (Philippines) và Ayutthaya (1351 - 1767, Siam). Hoạt động của các thương cảng - trung tâm kinh tế này được xem như các thế lực kinh tế, chính trị tiêu biểu của khu vực. Việc đặt Hội An trong tương quan so sánh với Batavia, Manila và Ayutthaya chính là “giải pháp” quan trọng giúp làm rõ chức năng, tính chất, vị thế của thương cảng trong bối cảnh cạnh tranh với các thế lực kinh tế Đông Á và thế giới.


          Về vị trí địa lý, Manila nằm ở giữa bờ đông Thái Bình Dương, luôn được coi là “Cầu nối” giao thương trọng yếu kết nối Đông Bắc Á và Đông Nam Á, châu Mỹ và châu Á, “kể từ sau khi Manila được thành lập năm 1571, hoạt động trao đổi tơ lụa Trung Quốc lấy bạc Tân Thế giới trở thành xương sống của nền mậu dịch Tây Ban Nha ở Philippines cho đến đầu thế kỷ XIX”. Trong công trình: The Manila Galleon, nhà nghiên cứu William Schurz từng cho rằng, vai trò của Manila cao tới mức: “trong tất cả các thành phố cảng thị ở Viễn Đông, Manila là trung tâm tốt nhất cho mậu dịch Viễn Đông cả về mặt địa lý tự nhiên và vị trí địa - kinh tế,… Malacca, Macao hoặc Batavia đều không có vị trí ưu việt như thương cảng này”. Đối với Batavia, thương điếm của Hà Lan ở đây có vị trí rất lý tưởng khi nằm ngay gần eo biển Malacca - “yết hầu” của tuyến giao thương quốc tế kết nối Đông – Tây, Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương trong nhiều thế kỷ. Batavia được Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) kỳ vọng “trở thành điểm xuất phát để thực dân Hà Lan đánh chiếm các đảo Indonesia, biến nơi này thành trung tâm buôn bán và giao thông trên trục Á - Tây - Phi”.

          Trong khi đó, với Ayutthaya, thương cảng này được bao quanh bởi sông Chao Phraya (hay sông Mê Nam) - một dòng sông rộng lớn, chảy về phía nam ra biển Andaman theo hai cửa, tàu thuyền có thể ra vào, ngược xuôi dễ dàng. Với lợi thế tự nhiên đó, thương cảng Ayutthaya có vai trò rất lớn trong việc nối kết thị trường Tây Nam Á và Đông Á. Nhờ đó, đến đầu thế kỷ XVI, nhờ có mối mối quan hệ mật thiết với Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia vùng Đông Nam Á hải đảo và sau đó là sự hiện diện của người châu Âu, mà Ayutthaya đã mau chóng trở thành một trung tâm thương mại thịnh vượng của khu vực. Dưới sự trị vì của vua Narai (1632-1688), Ayutthaya là nơi trao đổi của nhiều nguồn hàng đa dạng từ Trung Quốc (tơ lụa, gốm sứ), Nhật Bản (bạc, đồng, xa xỉ phẩm), Ấn Độ và Ả Rập (vải bông Coromandel, lụa Ba Tư, nước hoa hồng)….

          Về chính sách phát triển, trong bối cảnh xâm nhập, thâm nhập rồi từng bước gây áp lực chính trị, quân sự của người châu Âu tại từng quốc gia, chính sách thương mại của chính quyền khu vực với Batavia, Manila, Ayutthaya đều có sự khác biệt nhất định. Trong đó, Manila và Batavia chịu sự kiểm soát chặt chẽ bởi các thế lực hàng hải châu Âu. Trong cả hai trường hợp, quyền lực chính trị và tham vọng bành trướng tại khu vực là cơ sở cho sự phát triển của thương cảng. Về Manila, để khẳng định quyền lực ở vùng biển Đông Nam Á, người Tây Ban Nha đã thực hiện chính sách độc quyền thương mại kéo dài gần 2 thế kỷ (1593 - 1762). Xuyên suốt thời kỳ này, tại Philippines, “Tây Ban Nha chỉ mở một cảng duy nhất là Manila để trao đổi hàng hóa, áp dụng hệ thống mua sỉ hàng hóa; những thương nhân châu Á không được phép tham gia trực tiếp vào thương mại Manila Galleon cũng như nội thương Philippines mà chỉ đóng vai trò là những người cung cấp hàng hóa”. Năm 1762, khi Tây Ban Nha đã suy yếu và bị Anh chiếm đóng Manila đến năm 1764, người Tây Ban Nha mới nới lỏng hạn chế ở Manila, xóa bỏ các rào cản độc quyền và khuyến khích hoạt động thương mại Nội Á.

          Tương tự, Batavia với tư cách là trụ sở của Công ty Đông Ấn Hà Lan tại châu Á cũng phát triển gắn chặt với lợi ích của Hà Lan. Sự tự do buôn bán, cạnh tranh đã không còn được duy trì. Theo thời gian, Batavia và các cảng thị, đảo quốc địa phương đã trở thành nguồn cung cấp hàng hóa chủ đạo cho Công ty Đông Ấn Hà Lan, phục vụ lợi ích thương mại của chính quyền Hà Lan. “Vai trò” kéo dài đến khi Indonesia tuyên bố độc lập khỏi đế quốc thương mại - hàng hải này.

          Trường hợp Ayutthaya, cơ bản giống với Hội An, thương cảng này hoạt động dưới sự khuyến khích ngoại thương của triều đình; phát triển thịnh đạt từ thời kỳ của vua Narai (1656 - 1688). Tuy nhiên, khác với chính quyền Đàng Trong của các chúa Nguyễn, hoàng gia Ayutthaya không đặt trọng số phát triển vào hoạt động giao thương thuần túy. Trên thực tế, thương cảng Ayutthaya được xây dựng để gia tăng các nguồn hàng xa xỉ, phục vụ cho các hoạt động lễ nghi của giới quý tộc, hoàng gia. Cùng với đó, việc khuyến khích hoạt động của thương cảng cũng giúp chính quyền Ayutthaya mua thêm súng đạn, vũ khí hiện đại của phương Tây phục vụ chiến tranh… Vì thế, hoạt động của giới thương nhân ở đây thường gắn với lợi ích vương triều, không có nhiều “không gian” cho nền thương mại tự do phát triển. Kết quả là, khi xảy ra xung đột giữa triều đình và các thế lực hàng hải lớn như Anh, Pháp, Hà Lan… nền ngoại thương Ayutthaya dần suy yếu và chịu sự chi phối, lệ thuộc vào hoạt động của các thế lực kinh tế phương Tây.

          Về mức độ giao lưu, với tư cách là các trung tâm kinh tế lớn mạnh, thương cảng quốc tế tại Đông Nam Á, cả Manila, Batavia và Ayutthaya đều thiết lập nhiều mối giao lưu liên vùng và liên khu vực. Manila, với vai trò là điểm then chốt của mạng lưới thương mại xuyên Thái Bình Dương (Manila-Acapulco Galleon Trade), trở thành nơi tập trung các nguồn hàng giá trị từ cả thế giới phương Đông và phương Tây: “Ngay từ khi người Tây Ban Nha chiếm lĩnh và xây dựng Manila, giới thương nhân Tây Ban Nha, Mexico và châu Á lập tức triển khai hoạt động thương mại tại đây. Hằng năm, các tàu rời Acapulco [Mexico] mang theo bạc Tân Thế giới sang Manila để trao đổi các hàng hóa phương Đông, nhất là các thương phẩm đến từ Trung Quốc như tơ lụa, gốm sứ và hương liệu Đông Nam Á”.

          Điều này đã thu hút đông đảo thương nhân quốc tế và nhiều cộng đồng ngoại kiều đến Manila sinh sống, buôn bán lâu dài, trong đó người Trung Quốc là “khách hàng tiềm năng” nhất. Khu chợ Parián de Arroceros tại Manila từng là một trong những điểm tập trung của Hoa thương đông đúc nhất Đông Nam Á, tạo nên diện mạo, tính chất quốc tế rõ nét. Batavia, trong thế kỷ XVI - XVIII đã nhanh chóng phát triển thành một trong những đô thị thương mại năng động nhất Đông Nam Á. Tàu buôn châu Âu, thuyền buôn Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… đều cập bến Batavia; cùng sự hiện diện của các cộng đồng Hoa thương, Hồi thương, Nhật thương… và nhiều nhóm cư dân khác, đã khẳng định tiềm năng phát triển và tầm vóc của Batavia tại Đông Nam Á.

          Đối với Ayutthaya, thương cảng này đã sớm trở thành nơi hội tụ của nhiều cộng đồng thương nhân khu vực và quốc tế từ thế kỷ XVI. Trong cuốn sách Lịch sử Đông Nam Á, tác giả Lương Ninh đã nhận xét về “một thương cảng quốc tế nằm ở khúc cong, gần hạ lưu sông Mê Nam, cách Băng Cốc 80km về phía bắc. Nơi đây có hoàng cung bên bờ sông, xưởng đóng và sửa chữa tàu gỗ, bãi dạy voi, những đường phố và khoảng 10 khu ngoại kiều: Nhật, Pháp, Bồ, Hà Lan, Java, Anh, Việt…”. Đó là những phác họa về Ayutthaya, cảng trọng yếu của vương quốc Siam.

          Đặt trong tương quan so sánh với ba thương cảng lớn trên, có thể khẳng định Hội An có nhiều ưu trội và đặc tính riêng biệt. Trước hết, đặc điểm địa -kinh tế, địa - chiến lược khác nhau sẽ quyết định chức năng, vai trò, chức năng  của mỗi thương cảng. Có thể thấy, vị trí của Batavia gần như xác định vai trò kiểm soát các tuyến hàng hải quốc tế Đông - Tây, Manila là “cầu nối” cho các hải trình đường dài xuyên Thái Bình Dương (theo trục ngang) và Đông Bắc Á với Đông Nam Á (theo trục dọc), và Ayutthaya là vùng giao lưu giữa thế giới Đông Á với Nam Á. Trong khi đó, nằm dọc theo bờ Biển Đông, Hội An có chức năng như một đầu mối thương mại, thích hợp để trung chuyển hàng hóa, tiếp sức cho các hải trình ven biển, kết nối vùng sản xuất nội địa của Đại Việt với thị trường khu vực và quốc tế.

          Vai trò đa chức năng đó đã tạo nên giá trị riêng có, độc đáo của Hội An trong mạng lưới thương mại Đông Nam Á, “Từ cuối thế kỷ XVI, Hội An đã được thương nhân ngoại quốc biết đến với tư cách là một trung tâm tập kết hàng hóa xuất khẩu đa dạng, đổng thời là một trạm trung chuyển sầm uất với sự hiện diện của các cộng đồng thương nhân phương Đông (Nhật Bản, Trung Quốc, Xiêm, Java...) và phương Tây (Bồ Đào Nha và từ thế kỷ XVII là người Hà Lan và Anh...)”. Trong ý nghĩa đó, việc so sánh địa thế Hội An với các thương cảng khu vực không phải nhằm tìm ra điểm vượt trội, mà để chứng minh Hội An đã tận dụng hiệu quả những đặc điểm địa lý của riêng mình để khai thác tiềm năng kinh tế, xây dựng vị thế khu vực. Có thể khẳng định, thương cảng Hội An là một mắt xích quan trọng của nền hải thương Đông Nam Á, “đóng vai trò của một trung tâm liên vùng để cùng với Goa (Ấn Độ), Ayutthaya (Siam), Malacca (Malaysia), Batavia (Indonesia), Luzon, Manila (Philippines)… nối kết với Formosa (Đài Loan), Macao (Trung Quốc), Deshima (Nhật Bản) để tạo nên một hệ thống thương mại có độ liên kết chặt và tương đối hoàn chỉnh của châu Á”.

          Mặt khác, sự đa dạng về cách thức quản lý, ban hành chính sách của chính quyền bản địa cũng góp phần định hình con đường phát triển, vai trò khác nhau mà mỗi thương cảng đảm nhận trong mạng lưới hải thương Đông Nam Á. Xem xét các trường hợp Batavia, Manila và Ayutthaya là các trung tâm có vai trò kinh tế - chính trị song hành. Vì vậy, điểm chung trong chính sách của giới cầm quyền của ba thương cảng trên đều là “độc quyền thương mại”, lợi ích gắn kết chặt chẽ với tầng lớp thống trị. Hệ quả là các thương nhân phải chịu nhiều rào cản, hạn chế (hoặc mâu thuẫn) từ chính quyền địa phương. Trong khi đó, Hội An tuy là một trung tâm quan trọng của Đàng Trong, nhưng lại tập trung phát huy vai trò kinh tế đối ngoại, khuyến khích đồng thời nhiều lực lượng tham gia vào các hoạt động bang giao, giao thương khu vực, quốc tế.

          Chính các chủ trương, chính sách đó đã tạo nên sức hấp dẫn của Hội An, thông qua các chính sách thương mại và môi trường giao thương cởi mở do chúa Nguyễn kiến tạo. Đối với thương nhân quốc tế, Hội An có sức hút lớn không chỉ bởi nguồn hàng phong phú, mà còn nhờ tính ổn định xã hội, an toàn trong giao thương và khả năng bảo đảm (bảo hộ) quyền lợi và cùng với đó là những cam kết của chính quyền Đàng Trong trong hoạt động kinh tế đối ngoại.  

          Chế độ thuế công khai, minh bạch, có lượng tính đến từng mối quan hệ cụ thể là yếu tố quan trọng giúp Hội An trở thành một trung tâm ngoại thương đạt tầm vóc quốc tế. Trong khi Batavia, Manila và Ayutthaya phát triển dựa trên chính sách, quyền lực của giới thống trị phương Tây thì thương cảng Hội An phát triển dựa trên sự khai thác hiệu quả, hài hòa về lợi ích giữa việc huy động nguồn lực tự nhiên với sức mạnh kinh tế, giữa những ưu thế về xã hội với các chủ trương, chính sách khai mở của chính quyền. Nhờ đó mà Hội An có thể duy trì được sinh lực phát triển trong bối cảnh thương mại khu vực thường xuyên có những biến động lớn. Tinh thần khoan dung, cởi mở kết hợp với chính sách quản lý biển rõ ràng, minh bạch, giàu bản lĩnh của chính quyền Đàng Trong đã tạo lợi thế cạnh tranh cao cho Hội An so với các thương cảng lớn của khu vực. Điều đó lý giải vì sao, nhiều tập đoàn thương nhân khu vực, quốc tế (mà điển hình là giới doanh thương Nhật Bản) lại chọn Hội An và Đàng Trong là đối tác trọng yếu trong quan hệ khu vực.

(Trích từ bài viết Thương cảng quốc tế Hội An trong hệ thống giao thương Đông Nam Á thế kỷ XVI - XVIII và hàm ý chính sách với sự phát triển của Đà Nẵng hiện nay)

Nguồn tin: Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây