Vùng đất này có 3 mặt giáp với sông - biển. Trong lịch sử, Phước Trạch còn có tên gọi là làng/xã Phước An. Tiền hiền của làng là các tộc Trương, Trần, Lê, Phạm có nguồn gốc từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh di cư vào khai phá lập làng/xã Phước An muộn nhất vào đầu thế kỷ XIX, sinh sống chủ yếu bằng nghề khai thác thủy sản trên sông biển. Tài liệu Cẩm An - Làng chài ở miền Trung Việt Nam[1] cho biết, vào năm 1962, Phước Trạch là 1 thôn của xã Cẩm An, toàn thôn có 126 thuyền đánh bắt hải sản, gồm 20 thuyền đánh bắt xa bờ và 106 thuyền đánh bắt gần bờ.
Trong quá khứ hơn nửa thế kỷ về trước, chinh phục và khai thác các nguồn lợi từ biển cả hoàn toàn không đơn giản, bởi điều kiện kỹ thuật hàng hải thô sơ, việc di chuyển những con thuyền trên biển chủ yếu dựa vào sức người và lợi dụng năng lượng gió. Đối với ngư dân Phước Trạch cũng vậy, khi chưa có thuyền máy, họ sử dụng những chiếc mủng chai, ghe/thuyền đóng bằng gỗ, ghe/thuyền be gỗ mê nan, gắn chèo, cột buồm để “ra khơi vào lộng” trong hoạt động nghề biển, chủ yếu là khai thác nguồn lợi hải sản. Về sau, với việc sử dụng sức động cơ để tạo lực đẩy ghe thuyền và đóng những ghe thuyền lớn thì ngư trường khai thác hải sản cũng được mở rộng, vươn xa hơn; thời gian lưu lại trên biển để đánh bắt cá cũng dài ngày hơn. Việc lưu lại và di chuyển trên biển nhiều ngày đòi hỏi ngư dân không chỉ có kinh nghiệm trong việc lưu trữ, bảo quản hải sản đánh bắt được mà còn tích luỹ nguồn tri thức, kinh nghiệm dày dạn về nhiều mặt như xác định phương hướng di chuyển, ngư trường khai thác, nhận biết các yếu tố thời tiết bất lợi và cách ứng phó…
Việc xác định phương hướng để di chuyển, đến ngư trường đánh bắt hoặc vào bờ được ngư dân Phước Trạch dựa vào nhiều yếu tố. Trước hết, dựa vào mặt trời, trăng và núi. Khi trời trong biển lặng, người dân ra biển dễ dàng xác định phương hướng nhờ quan sát mặt trời, mặt trăng, nhìn núi Cù lao Chàm và các núi trong đất liền.

Nghề đánh bắt cá của cư dân Cù Lao Chàm. Ảnh: Trần Thanh Hoàng Phúc
Những người dân biển ở đây quen nhìn hướng mặt trời mọc, lặn còn nhận ra rằng, đường đi của mặt trời cũng thay đổi theo mùa. Tháng 5, mặt trời ló lên ngay Hòn Lao nhưng rồi mỗi ngày một dịch chuyển dần về hướng Đông Nam, đến tháng 11, 12 thì mọc chếch về phía dưới hòn Tai. Vị trí mọc và di chuyển cũng xê dịch theo mùa, như mặt trời, mặt trăng còn có đặc điểm là ngày hôm sau mọc lên muộn so với hôm trước khoảng 45 phút. Nhờ chịu khó quan sát, tinh tường những quy luật tự nhiên đó của đất trời mà người ngư dân xác định phương hướng cũng chính xác hơn.
Ngư dân Phước Trạch nói riêng, Hội An nói chung thường xem cụm đảo Cù Lao Chàm và đỉnh núi Sơn Trà là những cột mốc quan trọng nhất cho việc xác định phương hướng. Cù Lao Chàm nằm cách Cửa Đại khoảng 15km, gồm 8 hòn đảo (Lao, Lá, Mồ, Dài, Tai, Ông, Khô Mẹ, Khô Con) xếp thành hình cánh cung. Vào những ngày trời quang biển rạng, ngư dân dễ dàng nhắm hướng di chuyển dựa vào vị trí các đảo để đến nơi đánh bắt theo mong muốn. Chẳng hạn, muốn đến vùng biển giữa Hòn Khô và Hòn Lá, ngư dân nhắm mũi ghe hướng vào khoảng giữa của 2 hòn đảo này. Để xác định các vị trí cụ thể hơn khi đánh bắt trên vùng biển có thể quan sát được cụm đảo Cù Lao Chàm, ngư dân dùng cách quy chiếu giữa các đảo để đến nơi đánh bắt quen thuộc, cũng như điều chỉnh khoảng cách dịch chuyển tùy theo kinh nghiệm.
Bên cạnh việc nhìn đảo Cù Lao Chàm, người dân vùng biển gọi là núi nước thì việc nhìn núi trong đất liền (núi đất) cũng rất quan trọng trong việc xác định ngư trường đánh bắt và nhất là di chuyển khi vào bờ. Các ngư dân nhìn vào núi Trà Kiệu và Núi Chúa, Sơn Trà. Người đánh bắt cũng có thể nhắm cả núi Cù Lao Chàm và núi Trà Kiệu, Cù Lao Chàm và Hòn Nghê (nằm ở phía Đông Nam của bán đảo Sơn Trà) để xác định vị trí. Tháng giêng đến tháng 5, cá từ hướng Nam về Đông, hướng Bắc. Nếu hôm nay đánh ở khu vực này thì ngày mai phải nhích lên đi theo luồng cá. Qua tháng 6, cá thường theo luồng từ hướng Đông về hướng Tây, xuống Nam. Rõ nhất là nghề đánh cá chuồn, tháng 6 trở đi, những người đi lưới cá chuồn khơi (chuồn cồ) chuyển vào đánh bắt trong lộng, thường là các loại chuồn mành, mít, xanh.
Dựa vào các vì sao, quan trọng nhất đối với họ là sao Bắc Đẩu, luôn ở phương Bắc. Ngư dân miêu tả rằng chòm sao này có khoảng 7 ngôi rất sáng, xếp hình y hệt một cái bánh lái của chiếc ghe. Khi ở giữa biển, họ thấy chòm Bánh Lái mọc lên ngay trên hòn Nghê (bán đảo Sơn Trà), sáng tỏ từ 7 giờ tối. Chòm sao dịch lên cao dần, về khuya lại từ từ hạ xuống, 5 giờ sáng thì ngôi sao phần cuối bánh lái lặn khuất mặt nước, chỉ còn cái cọng bánh lái là rõ. Tuy nhiên, người đi biển lâu năm thường biết cách nhìn nhiều sao và chòm sao khác nữa. Việc này rất quan trọng với họ. Bởi vì, khi lênh đênh giữa biển khơi, có nhiều cơ sở tốt để phán đoán vẫn yên tâm hơn, dễ xử lý trong những trường hợp không thuận lợi.
Tri thức, kinh nghiệm nhận biết, suy đoán phương hướng dựa vào hướng gió, hướng sóng và độ sâu của nước biết chủ yếu được vận dụng vào ban đêm, những lúc không có trăng sao, bàu trời u ám xám xịt. Gió và sóng là 2 hiện tượng tự nhiên có mối quan hệ mật thiết với nhau, gió lớn thì sóng nhóc mạnh, gió chiều nào sóng đi chiều đó. Tuy vậy, ở khu vực gần bờ, sóng nhóc chủ yếu dạt từ đông sang tây, tức từ biển vào bờ. Ngư dân Phước Trạch dường như nằm lòng tính chất của từng loại gió, từng hướng nhóc, âm thanh của tiếng sóng vỗ để nhận biết vị trí và di chuyển trên biển, nhất là vào ban đêm.
Từ tháng Chạp cho đến tháng 4 (năm sau) là mùa gió nồm thổi từ biển khơi theo hướng Đông Nam vào bờ, mát lành, mang nhiều may mắn cho những chuyến ra biển đánh bắt hải sản, đây là thời gian biển êm nhất trong năm. Gió Tây Nam (gió Lào) hoạt động mạnh vào tháng 5, tháng 6. Vào tháng 8 âm lịch tiết trời sang thu, hết Nam[2] nhưng lại sắp vào mùa bão tố. Từ tháng 10 năm này đến tháng Giêng năm sau, gió Bấc khô, buốt lạnh thổi mạnh, có đợt kéo dài đến cả tuần lễ, làm biển động, sóng cồn, có thể làm chìm ghe thuyền. Dựa vào đặc điểm, tính chất gió của từng mùa như vậy nên ngư dân Phước Trạch dễ dàng suy đoán phương hướng khi di chuyển vào bờ hay ra khơi. Không những vậy, còn lợi dụng sức gió để dong buồm di chuyển nhanh hơn, đỡ công sức chèo chống. Vào những đêm không có trăng sao, ngư dân nhằm hướng gió nồm (gió Đông Nam) thổi bên đốc (bên phải ghe) là đi ra, thổi bên lái (trái ghe) là đi vào.
Vào những lúc sóng nhẹ, gió êm, nếu chỉ nhìn gợn nước thôi có khi cũng bị lạc hướng, vậy nên ngư dân còn kết hợp với dò độ sâu của nước để biết ghe đang đi ra biển hay vào bờ mà đổi hướng. Ngư dân Phước Trạch dùng sợi dây cước/nhợ buộc đá cục làm thành một cái dòm. Thả dòm xuống biển đến khi chạm đáy rồi rút dây lại cho căng, lúc đó họ bắt đầu thu dây và tính theo từng sải tay, nếu số sải lần sau nhiều hơn lần dò nước trước đó có nghĩa là mực nước sâu hơn, ghe đang đi ra/xa bờ và ngược lại. Ngư dân Phước Trạch còn nhìn hình dạng những ngọn sóng/nhóc để đoán biết chỗ có cồn, nước cạn mà tránh khi di chuyển ra vào cửa. Bên cạnh việc xác định hương phướng dựa vào núi, trăng sao, sóng gió, ngư dân Phước Trạch còn dựa vào ánh đèn măng xông của rớ chồ vùng cửa sông Thu Bồn.
Trong quá trình đánh bắt hải sản trên biển, không phải lúc nào thời tiết cũng thuận lợi, trời yên biển lặng, thuận buồm xuôi gió để thuyền về tôm cá đầy khoang. Giữa biển cả mênh mông, diễn biến bất ngờ khó lường của thời tiết không chỉ gây thiệt hại đến phương tiện, tài sản mà thậm chí cả tính mạng, nhất là vào những tháng thường có giông lốc, tố Bấc. Để giảm thiểu những thiệt hại, ngư dân Phước Trạch luôn quan sát những dấu hiệu trên bầu trời, mặt biển, sóng nước để suy đoán diễn biến của thời tiết, nhất là những hình thái thời tiết cực đoan. Dấu hiệu nhận biết diễn biến thời tiết xấu được ngư dân tích luỹ như sau: Nhìn thấy sao trời mờ đi (sắp có giông gió), nhìn đám mây phía Tây khi mặt trời lặn ửng đỏ (ngày mai sẽ có giông gió), ngời nổ mạnh và nổi gần mặt nước (gió đến gấp), chuồn chuồn bay sát và đậu vào ghe, vào người (sắp có mưa gió), chớp vào buổi đêm sà sát mặt nước từ Tây lan ra phía Bắc (sắp có giông gió),…
Để ứng phó khi gặp những hiện tượng thời tiết bất lợi trên biển, nếu đang ở đất liền, quan sát thấy những dấu hiệu báo trước của bão tố, thường bà con không ra biển hoặc có thì chỉ đi gần bờ, trong lộng và chủ động về sớm. Nếu như đang lênh đênh trên biển thì tùy vào vị trí, tình hình để quyết định. Nếu ghe đang ở xa Lao, gần bờ thì nên di chuyển nhanh vào bờ (bãi ngang).
Nếu đang ở gần Cù Lao Chàm thì di chuyển ghe tới neo đậu cách bãi khoảng 50 - 100m, phòng việc bị sóng đánh va vào đá, hoặc núp ở khoảng giữa của các hòn đảo là nơi kín gió (như giữa hòn Nậy và hòn Tai). Đợi khi êm gió trở lại, ngư dân mới tiếp tục đánh bắt. Những lúc tình thế cấp bách, thậm chí bà con đang kéo lưới giữa chừng cũng phải chặt bỏ để bơi nhanh vào đảo tránh trú.
Trong những trường hợp không di chuyển kịp, phải neo lại trên biển chờ qua cơn giông tố, việc đầu tiên phải làm là hạ các cánh buồm, sau đó thả dòm để đằm ghe, giữ không bị sóng to gió lớn giằng giật, lật chìm. Rồi cứ thế thả ghe trôi dạt theo chiều gió dữ, đến chừng nào mặt biển êm lại mới xác định hướng trở về. Ngày trước bà con chỉ dùng đá cục để làm cái dòm, cột ở mũi ghe vì mũi thường cao hơn lái, sức nặng của đá sẽ giúp hạn chế việc mũi ghe bị gió mạnh thổi dạt đi. Sau này, ngư dân sử dụng dù may bằng loại vải bền chắc để làm dòm. Khi thả xuống nước, dòm sẽ bọc nước, trở nên rất nặng, giúp cản bớt lực gió đang kéo phăng ghe trên mặt biển.
Vốn có truyền thống gắn bó lâu đời với sông - biển trong hoạt động mưu sinh, cùng với việc hình thành, định hình nếp sống, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và các thiết chế liên quan từ lâu đời nên cư dân Phước Trạch đã tích lũy cả một kho tàng phong phú tri thức, kinh nghiệm dân gian trong nghề biển, giúp cho việc di chuyển và hoạt động khai thác nguồn lợi hải sản vừa thêm hiệu quả, vừa giảm bớt những bất trắc khó lường. Những tri thức, kinh nghiệm dân gian đó truyền đời qua bao thế hệ, giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của cộng đồng, nghề nghiệp.
John D. Donoghue (1962), Cam An: a físhing village in central Viet Nam, người dịch: Phạm Thị Mỹ Tâm.
Từ địa phương, chỉ gió phơn Tây Nam.