Hội An từ lâu đã đi vào lòng người bằng nét trầm mặc của những dãy phố cổ, của mái ngói rêu phong bên dòng sông Hoài tĩnh lặng. Nhưng có lẽ, ít ai chạm tới được tầng sâu nhất, nơi những trầm tích văn hóa biển đảo vẫn âm thầm chảy, tạo nên căn tính mạnh mẽ của vùng đất cửa sông này.
Hồn cốt của Hội An không chỉ nằm trên những con phố, mà còn vỗ sóng cùng đại dương bao la.
Trong dòng chảy lịch sử, biển cả chưa bao giờ chỉ là nơi mưu sinh. ThS. Phạm Phú Ngọc, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An, đã chia sẻ một góc nhìn đầy cảm xúc khi gọi biển đảo là "không gian văn hóa đặc biệt".
Từ Cù Lao Chàm, cửa biển Đại Chiêm đến những vạn chài ven sóng, cư dân nơi đây đã viết nên lịch sử bằng sự thích ứng kỳ diệu.

Lễ hội cầu ngư, nét đẹp của văn hóa biển ở Hội An. Ảnh: Hồng Việt.
Dưới góc nhìn của ThS. Quảng Văn Quý, Phó Giám đốc Trung tâm, biển là sợi dây kết nối mạng lưới giao thương Đông -Tây, là nơi các lớp cư dân từ thời Sa Huỳnh, Champa cho đến Đại Việt hòa quyện, tạo nên một bản sắc riêng không thể trộn lẫn.
Những sắc phong thờ cá Ông, tục thờ Mẫu hay tín ngưỡng thờ Thủy thần không đơn thuần là niềm tin tôn giáo, mà như TS. Trần Đình Hằng và TS. Đinh Thị Kim Ngân phân tích, đó là sự "thể chế hóa ý thức chủ quyền".
Mỗi một mỹ tự trên sắc phong thời Nguyễn chính là lời khẳng định đanh thép của tiền nhân về không gian sinh tồn, là khát vọng chế ngự phong ba để gìn giữ chủ quyền trên từng con sóng.
Dẫu vậy, một thực tế không thể phủ nhận là sự hiện đại hóa đang đặt di sản vào những thử thách nghiệt ngã.
ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền và ThS. Thái Thị Liễu đã phác họa một bức tranh đầy trăn trở: ngư trường dần thu hẹp, giới trẻ rời bỏ nghề biển truyền thống để tìm về những công việc dịch vụ du lịch hào nhoáng hơn.

Lễ hội cầu ngư ở Phước Trạch (Cửa Đại). Nguồn ảnh: Hồng Việt.
Khi những lão ngư - những người giữ lửa cuối cùng của tri thức dân gian - dần khuất bóng, ta chợt nhận ra mình đang đánh mất nhiều hơn cả một phương thức đánh bắt. Đó là cách xem ráng trời, hướng gió, cách nhận biết những "thủy hệ cổ" hay những điệu lý miền biển thấm đẫm tình người.
Sự đứt gãy ấy không chỉ là vấn đề của văn hóa, mà còn là sự rạn nứt trong tính liên kết sinh thái mà cha ông ta đã dày công vun đắp suốt nhiều thế kỷ.
Vậy làm sao để giữ lại hồn cốt ấy mà không biến di sản thành một bảo tàng tĩnh lặng?
Câu trả lời nằm ở triết lý bảo tồn thích ứng, nơi cộng đồng đóng vai trò là chủ thể của mọi quyết định.

Tổ cộng đồng và cam kết “Cua không nhãn là bất hợp pháp”. Nguồn ảnh: Lê Ngọc Thảo.
Câu chuyện về cua đá Cù Lao Chàm qua lời kể của ông Lê Ngọc Thảo là một minh chứng đẹp đẽ.
Khi người dân không còn bị đặt ngoài lề, khi họ cùng nhau lập ra các tổ tự quản để khai thác văn minh, cua đá không còn là sản vật bị tận diệt mà trở thành biểu tượng của sự đồng thuận giữa sinh kế và bảo tồn.
Chính sự kết nối tự nguyện ấy đã khẳng định rằng, di sản chỉ trường tồn khi người dân được sống hạnh phúc và tự hào trên chính nguồn lợi mà biển cả ban tặng.
Bảo tồn không phải là để níu giữ quá khứ, mà là cách chúng ta tạo ra điểm tựa vững chãi cho tương lai.
ThS. Quảng Văn Quý – Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An nhận định: “Bảo tồn văn hóa biển - đảo Hội An không phải là kéo lùi sự phát triển, mà là tạo ra một điểm tựa vững chắc, một trục văn hóa xuyên suốt để hướng tới tương lai bền vững của đô thị di sản vùng cửa sông”.
Việc "số hóa" những lễ hội Cầu ngư, hay biến tri thức dân gian thành những sản phẩm du lịch tinh tế, không chỉ giúp người dân có thêm thu nhập, mà còn là cách để họ hiểu rõ hơn về giá trị của những gì mình đang gìn giữ. Hội An, với tâm thế của một đô thị cửa sông hướng biển, đang cho thấy rằng văn hóa không cần phải đối lập với phát triển.
Chỉ cần biết cách khơi dòng, những mạch nguồn tri thức dân gian sẽ nảy nở, tạo nên một sức sống mạnh mẽ, trường tồn, để dù bao nhiêu thập kỷ trôi qua, hồn cốt biển đảo vẫn sẽ mãi là hơi thở tự tôn của người dân xứ Quảng.
Tác giả: Khiếu Thị Hoài
Nguồn tin: Nông thôn Việt
Những tin cũ hơn