Đô thị cổ Hội An - Di sản Văn hoá Thế giới

https://hoianheritage.net


Góp thêm giải pháp về tu bổ Chùa Cầu

Sau hơn 2 năm thực hiện đo vẽ, khảo sát, các chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản đã thống nhất tiến đến việc hạ giải, làm nhà che và tạo không gian mở cho khách tham quan dễ dàng quan sát công việc tu bổ Chùa Cầu. Hiện nay là giai đoạn cần tham vấn, góp ý… cụ thể của các nhà chuyên môn để hoàn thiện công trình tốt nhất.
chua cau 1996
Hình ảnh Chùa Cầu trong kho tư liệu khi khảo cứu. Ảnh tác giả chụp lại.
 

      Những giải pháp tu bổ trước đây

      Theo ghi chép, thời gian tu bổ Chùa Cầu vào các năm: 1817, 1865, 1874, 1915, 1986, 1996 và những sửa chữa nhỏ trong những năm gần đây. Tuy nhiên trong lần tu bổ sau này (chưa xác định cụ thể năm 1986 hoặc 1993 - NV), phần lòng cầu đã nâng cao lên gần bằng cốt (code) của lối dành cho người ngồi nghỉ ở hai bên.

      Nếu quan sát các kiểu cầu có mái với kiểu “Thượng gia hạ kiều - Trên nhà dưới cầu” thì ở Việt Nam hiện có các cầu như: cầu ngói Thanh Toàn (Thừa Thiên Huế); cầu ngói Chợ Lương, Chợ Thường (Nam Định) và cầu có mái lợp lá Cổ Lễ (Nam Định).

      Chi tiết giống nhau của 4 cây cầu này là lối đi (cho người đi bộ và xe cộ) và chỗ cho người đứng, ngồi… hai bên thành cầu đều chênh code với độ cao từ 40 - 60cm. Bờ này bằng gỗ và đá có thêm vật liệu mới là xi măng.

      Tương tự năm 1972 khi vào thăm cha làm việc ở Hội An, người viết bài này lúc ấy học lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ) khi đến thăm Chùa Cầu cũng đã gặp hình ảnh người địa phương nghỉ ngơi trên thành cầu có nền cao hơn nền lối đi.

      Khi xem lại ảnh cũ có hai cụ bà ngồi bán hàng bên trên lan can, có bảng Lai Viễn kiều được xếp hạng; các song gỗ chống đỡ sàn được đặt thưa tạo thông gió cho không khí mát từ dòng nước bên dưới, kỹ thuật này có thể cũng mang tác dụng không làm cản trở dòng nước lụt hàng năm dâng lên. Ván lót sàn cũng chồng mí, không lót phẳng sẽ tạo thêm sự chịu lực.

      Về sau, Chùa Cầu càng bị tác động xấu như nước bào mòn chân cầu, móng bị nứt và nghiêng, dẫn đến các mộng liên kết giữa cột và dầm ở phần trên của cầu bị hở. Năm 1996 để chống xuống cấp cho cầu người ta đặt ngưỡng ngăn cấm xe máy đi qua, chỉ dành cho người đi bộ.

      Tiếp sau này, do sự xuống cấp của móng cầu nên đã thay thế một số dầm đỡ bằng gỗ, gia cường thêm sắt ở phần hạ bộ; thay mới toàn bộ ván lót sàn cầu. Đồng thời đã khơi dòng chảy dưới chân cầu và làm lại bờ kè hai bên dòng kênh... Với bản vẽ hiện trạng thì mặt cắt ngang từ phần chùa đến phần cầu cho số đo là code trong lòng cầu với bờ hai bên chỉ chênh nhau 10cm.

      Ghi chép từ khảo sát cá nhân

      Qua khảo sát của tôi vào ngày 15/7/2016 có những số đo, mô tả ngắn và đánh giá sơ bộ tình trạng về kiến trúc Chùa Cầu.

1986
Hình ảnh Chùa Cầu trong kho tư liệu khi khảo cứu. Ảnh tác giả chụp lại.

      Cụ thể: phần cầu nhìn qua vẫn trụ vững với đế xây đá, mái ngói âm dương trang trí bờ nóc bờ chái, các đường diềm mái tô màu, gắn mảnh sành, đĩa. Bên trong cầu, tổng quan gồm 9 gian phân định bằng các cột gỗ có tiết diện vuông, gian giữa lớn nhất là chỗ cao nhất của mặt cầu rộng 3.850mm, các gian kế tiếp xuôi theo nền cầu có kích thước nhỏ hơn và không đều khi đo qua tim cột gồm 1.810mm, 1.780mm, 1.800mm và 1.820mm.

      Tổng thể chiều dài của cầu qua phần gỗ là 18.270mm. Lòng cầu (hay chiều rộng) là 2.720mm có phần bậc thành hai bên cho khách dừng nghỉ rộng 1.200mm, bậc phía nam có lan can gỗ cao 600mm, thêm phần gờ trang trí bằng xi măng bao giữ bên ngoài.

      Vào mùa nước cạn lúc này, đo được khoảng cách từ sàn cầu đến mặt nước 4.200mm. Chiều cao từ sàn cầu đến đòn đông là 3.400mm. Phần Chùa bên phía bắc có chiều rộng 5.000mm, với phần hậu tẩm 2.820mm, chiều dài bằng gian giữa và gian hai bên của cầu.

      Tôi chắc chắn rằng các vì /vài đỡ mái cả cầu và chùa có nguồn gốc của người phương xa mang đến. Lấy trung tâm gian giữa của cầu ta có phía đông 3 bộ vì/vài và phía tây 3 bộ vì có kiểu thức chồng giường con đội/chồng rường (chồng 2 lần), gọi theo tiếng địa phương là chồng trính con đội. Phần cấu kiện đỡ nóc (vị trí đòn đông) có đấu/đế thót đáy và các cánh tay vươn ra đỡ mái theo kiểu thức đấu củng. Hai vì đỡ mái cuối hai đầu cầu đông và tây (tạo mái riêng) lại theo kiểu thức cong gọi là vì vỏ cua.

      Như vậy các kiểu thức đỡ mái này không gọi là vì (vài) kèo mà chúng ta có thể nhìn thấy những kết cấu này trong những ngôi nhà cổ đang tồn tại ở trong phố cổ có nguồn gốc từ Nam Trung Hoa.

      Những kiểu thức này lại không xuất hiện ở những ngôi nhà dân gian tại miền Trung. Về sự xuất hiện hình thức đỡ phần con đội theo kết cấu đấu củng ở nóc của các vì chính đến mái vỏ cua thì trong kiến trúc cổ cả người Hoa và người Nhật đều thường sử dụng.

      Về kết cấu vì chính trong chùa cũng theo kiểu thức chồng trính con đội và các vì nách đỡ chái là nhại lại theo kiểu 1/2 của vì chính. Kiểu thức này có trang trí những tai bông trên thân con đội ăn mộng trên lưng trính (thường chồng 3) được người địa phương và nhà nghiên cứu Việt Nam gọi là trính Nhật Bản.

      Toàn bộ kết cấu gỗ đều hình thức thanh trính (ngang) nằm dưới thanh xuyên (dọc) trong lòng xuyên (xuyên và xà đầu cột), không có ô hộc trang trí mà là những diềm theo kiểu lá đề biến thể. Các đòn tay và xà có hình tròn và các thanh rui có bản dày và lớn gần 200mm.

      Một điều đặc biệt nếu quan sát kỹ ta có thể phát hiện được cách liên kết các thanh trính và xuyên với cột không sử dụng kiểu chốt nêm (khóa các đầu xuyên và trính khi ăn qua cột) theo cách của người thợ mộc Việt miền Trung hay làm.

      Ở đây người thợ mộc xưa khóa lại bằng chốt nhỏ xuyên ngang qua phần đầu dư của trính hay xuyên. Thêm chi tiết là các đuôi trính, đuôi có phần trang trí khác với các đuôi, đuôi xuyên ở các ngôi nhà cổ, tuồng như không phải người thợ địa phương làm và nếu làm thì cũng theo mẫu của người phương xa... Điều này cần thêm việc điều tra về tư liệu của lần tu bổ gần đây.

      Cần cẩn trọng hết mức

      Chúng ta cũng dễ dàng thấy ngày trước các cấu kiện gỗ đều được phủ sơn, vì vậy cần tìm hiểu loại sơn đã sử dụng. Qua khảo sát thấy cả phần cầu và chùa có hiện tượng lún nghiêng, các liên kết gỗ đang bị phá vỡ. Đơn cử chiều cao từ nền lên dạ trính ở cột phía Nam đo là 2.260mm và bên phía Bắc là 2.290mm, đã chênh lệch 300mm.

      Tương tự phần cột ở tường phía Tây của chùa cũng đang bị lún nghiêng, vài góc tường bị nứt. Quan sát phần dưới gầm Chùa Cầu có những cấu kiện gỗ và kim loại mới gia cường gần đây. Tuy nhiên phần móng đá và phần chân cầu ăn vào hai bờ cần gia cường thêm.

tu bo chua cau 2023
Chùa Cầu đang trong giai đoạn trùng tu. Ảnh: Q.TUẤN
 

      Trong quá trình thi công, cần lưu ý về chi tiết phần tu bổ lòng cầu và phần bờ cầu hai bên. Theo đó, cần bảo tồn các cấu kiện gỗ có hình thức, kiểu kết cấu với kỹ thuật như chốt nêm (kín) thanh trính như ngày trước.

      Quan trọng nhất là để bảo đảm tính chân xác, cần quyết định chọn thời điểm tu bổ như giai đoạn lòng cầu là thấp hơn dành cho người đi lại chứ không phải vòm cong cao gần bằng code hai bên như hôm nay.

      Trở lại hình ảnh mà trước năm 1980 là giữ lại yếu tố gốc với ý nghĩa là cầu có mái che như Chùa Cầu Hội An: đi lại, tín ngưỡng, không gian sinh hoạt cộng đồng... Ngoài ra, việc thiết kế lối đi thấp, bờ 2 bên cao tạo thêm sự duyên dáng, thoáng mát trong kiến trúc với các song gỗ thưa chống đỡ ở bên dưới ngầm.

      Phần đế xây đá làm trụ cầu và chùa cố gắng giữ nguyên dáng bao bên ngoài (sau khi gia cố với vật liệu mới bên trong), nghĩa là cần phục dựng làm phần bao che như ngày trước. Các vật liệu mới như bê tông, sắt thép gia cường cần giấu vào bên trong hoặc sơn màu giả gỗ.

      Do cầu có độ dốc nên phần mái lợp bên trên lâu dài sẽ bị lực kéo về phía 2 đầu nên cần phải gia cường phần chân đế/mố cầu ở hai đầu và áp dụng phương pháp cổ truyền “thượng thu hạ thách” ở phần cột có mái đổ. Phần sơn phủ, tô màu cần tìm hiểu màu sơn, nguyên liệu sơn để phục chế. Cần chống ẩm và sử dụng các loại gỗ tốt chống được nước.

Tác giả: NGUYỄN THƯỢNG HỶ

Nguồn tin: baoquangnam.vn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây